Monday, June 19, 2017

BA VÀ TÔI

BA VÀ TÔI

Nếu bạn sống bên cạnh cha mẹ và có thể nhìn thấy những đổi thay từ từ của hai đấng sinh thành mỗi ngày thì chắc bạn cũng như tôi... ngậm ngùi nuối tiếc, ngay cả khi đang cùng Ba Mẹ ngồi ăn một bữa cơm tối.

Ba tôi đưa đũa gắp thức ăn cho vào chén, tôi giúp ông:

- Ba, để con gắp cho.

Không, Ba tự làm được mà!

Đầu đủa của Ba cứ gắp gắp xuống mặt bàn...

Ba để con gắp cho!

Được mà!

Hai, rồi... ba lần. Ba chỉ gắp được một cọng hành trong đĩa thịt xào.

Miếng cơm trong miệng tôi bổng đắng ngắt.

Một lần khác, Ba chan canh vào chén mà đổ tràn ra bàn, Ba đổ rác vô thùng mà tung tóe ra ngoài ...

Nhìn bên ngoài, so với những ông cụ cùng lứa tuổi thì Ba tôi thật khỏe mạnh, nói chuyện giọng còn sang sảng... Ba lúc nào cũng là người đàn ông trong gia đình. Ba trông coi sân trước, vườn sau chu đáo; đóng cửa khoá phòng cẩn thận; tắt bếp tắt đèn trước khi đi ngũ; thu dọn rác rưởi sau những bửa tiệc; dành xách những túi đi chợ nặng nhất; bất cứ lúc nào, bất cứ việc gì... không cần vợ con lên tiếng yêu cầu, Ba đều hăng hái chu toàn. Ba đúng là hình ảnh trụ cột của gia đình, gương mẩu và đầy vị tha.

Nhưng, tôi biết mỗi ngày qua là mắt Ba mờ hơn một chút, tai lãng hơn, tay chân lọng cọng và trí nhớ cũng dần mai một. Vậy mà khi tôi đưa Ba đi Bác sĩ khám tai để mua máy trợ thính thì ông la chới với:

Ba đâu có điếc mà đeo ba thứ đó.

Hoặc triết lý hơn một chút:

Ôi, thôi, già rồi... bớt nghe một chút, không sao. Lổ tai là cái gây nghiệp chướng nhiều nhất, bớt nghe bớt gây nghiệp!

Cho đến lần bạn già gọi điện thoại hỏi thăm, Ba khoác tay ra hiệu:

- Nói ổng... Ba ngũ rồi hoặc... Ba đi vắng!

Khi tôi cằn nhằn:

- Ba lạ ghê, không ai gọi thì trách mà có người gọi thăm thì không chịu nói chuyện.

Ba bỏ nhỏ:

Tai Ba... không nghe rõ, kẻ hỏi gà, người trả lời vịt, phiền lắm, con!



Ba và mấy chị em tôi định cư ở USA tháng 7 năm 1994. Năm đó Ba tôi đã 64 tuổi, sau mười môt năm trong trại cải tạo đã biến Ba tôi từ một người đàn ông trung niên đầy sức sống, đang thăng tiến về mọi mặt trong đời sống trở thành một ông già sáu mươi ốm yếu, bệnh hoạn. Tài sản trong nhà lần lượt ra đi vì vợ con không có cơ hội để kiếm được một công việc làm ổn định. Tôi, đứa con gái lớn của Ba, sau một cuộc tình duyên dang dở thì cũng đang vất vả nuôi một đứa con gái nhỏ không có quê nội để về.

Tôi vẫn còn nhớ ánh mắt của Ba nhìn tôi ngày tôi lên thăm Ba ở trại tù Tiên Lảnh- Quảng Nam. Ánh mắt ấy đã theo tôi suốt những tháng ngày còn lại trong đời. Vừa xót xa và tràn đầy thông cảm. Ba đã nói: “Con gái , khi chúng ta không thể nào thay đổi được hoàn cảnh thì nên vui vẻ chấp nhận nó, biết đâu… trong cái rủi còn có cái may, con à!”
Câu nói của Ba như một lời tiên tri. Cùng với nước mắt của hai mẹ con và lời khai theo sự hướng dẫn của Ba, tôi và đứa con gái nhỏ đã may mắn được chấp thuận của phái đoàn phỏng vấn cho đi định cư tại USA theo diện Nhân đạo (H.O) cùng với Ba và mấy người em. Lúc đó tình hình phỏng vấn rất căng thẳng cho con em của cựu tù nhân trên 21 tuôỉ. Năm đó tôi đã ba mươi sáu tuổi, trường hợp của hai mẹ con tôi được xem như là một kỳ tích. Tuy vậy, quyết định đưa đàn con đi định cư ở một đất nước xa xôi khiến Ba tôi ray rứt nhiều ngày tháng, sau khi đến Mỹ. Thực tế chẳng bao giờ giống như mình tưởng tượng. Những lá thư từ bạn bè, người thân gởi về trình bày hoàn cảnh nơi sống mới không chính xác, thật ra, họ cũng chẳng am tường gì cho lắm. Mấy cha con tôi lê thê lếch thếch ra đi, ra khỏi nước bằng máy bay hẳn hoi, không phải vượt rừng, vượt đại dương gì cho cam go.

Những tháng ngày đầu tiên trên đất Mỹ thật gian nan, Má tôi vì lý do sức khoẻ đã không cùng đi với gia đình vào năm đó. Dưới sự dìu dắt của Ba, tôi vừa làm chị vừa quán xuyến việc nhà thay cho mẹ. Tôi đã phải vật lộn với cơm áo và ngôn ngữ để vươn lên và tồn tại trong xã hội mới này. Mỗi ngày tôi đã phải làm việc 12 tiếng đồng hồ, lái xe đi và về gần 3 giờ. Ba tôi dù tuổi đã cao, cũng kiếm được một việc làm gần nhà. Những lúc rảnh, Ba còn giúp tôi chăm sóc đứa cháu ngoại. Vốn thấm nhuần giáo lý nhà Phật, Ba dạy cho con gái tôi nên làm điều thiện, tránh điều ác; giảng cho cháu thế nào là nhân quả, luân hồi và lòng vị tha. Sau này, cả hai mẹ con tôi đều chịu ảnh hưởng quan niệm sống của Ba tôi rất sâu đậm.

Tôi nhớ rõ ràng, sáu người người trong gia đình tôi đặt chân đến vùng đất tự do này với vẻn vẹn hai trăm đô la trong túi, không kể là biết bao nợ nần còn vương vấn nơi quê nhà. Vậy mà cái xách tay đựng tiền đó, tôi đành đoạn bỏ quên trên máy bay khi chuyển phi trường ở Los Angeles. Máy phóng thanh réo tên mình oang oang tôi cũng chẳng nghe được, đến khi có nhân viên của chương trình IOM đến giúp đỡ, tôi trình bày đúng những gì trong xách tay của mình, và được hoàn lại nhanh chóng, dễ dàng. Buổi tối đặt chân lên đất Mỹ, tiếng Anh đầu tiên tôi xử dụng là lắp bắp hai chữ “Thank you” trong ràn rụa nước mắt.

Mấy cha con sau một đêm nghỉ lại ở một hotel sang trọng, món gà chiên cho buổi ăn tối đầu tiên nơi xứ người đã khiến chúng tôi muốn ói vì chưa quen với mùi bơ. Cả nhà ăn tạm bánh tráng, bánh in mang từ VN sang, trong ba lô. Sáng hôm sau, chúng tôi được lên máy bay qua Denver rồi về Georgia. Chỗ ở đầu tiên là căn nhà ngay trung tâm thành phố Atlanta.

Ngày ngày chúng tôi đón xe bus đi học tiếng Anh, học chữ và học cả cách giao tiếp. Mỗi học sinh có mặt trong buổi học trước khi ra về được cô giáo cho hai đồng token, là loại tiền để dùng trả cho xe bus hoặc tàu điện ngầm, đó là một cách khuyến khích những người di dân đến với lớp dạy tiếng Anh. Chúng tôi vừa học sinh ngữ vừa lo học lái xe, những tháng đầu, cuối tuần nào cũng có môt vài người Việt đến thăm và chở chúng tôi đi chợ mua thức ăn, có người mang gạo, nước mắm, bánh mì hay thịt hộp đến cho. Thỉnh thoảng có người từ các cơ quan từ thiện đến đưa chúng tôi đi nhận áo quần ở những nơi bán áo quần cũ. Mỗi người trong gia đình được phát một cái bao nylon loại lớn, đi vòng vòng trong tiệm tha hồ chọn những món mình ưa thích, miễn sao đầy bao là được. Chị em tôi tham lam chọn toàn là đồ vest, com lê dày cộm, cháu bé con gái tôi thì ôm vô số gấu nhồi bông, búp bê… Ai cũng mừng rỡ vì khỏi phải chi tiền ra mà có đồ dùng, tiết kiệm được những đồng tiền trợ cấp, ai cũng vui.

Tôi nhớ có lần tôi đi chợ, muốn mua một cái chổi quét nhà mà ngần ngừ mãi, giá một cái chổi là $7, tôi nhẩm tính ra tiền VN mà hoảng hồn, không dám mua. Vậy mà Ba tôi  một lần đi chợ, dám mua một bộ dao kéo, tông đơ điện để cắt tóc, tôi nhớ dạo đó chừng $19.99, thật là một khoản tiền khá lớn, Ba tôi giải thích: Nhà có hai người đàn ông, mỗi lần ra tiệm cắt tóc mất cũng hai ba chục rồi, chưa kể là phải nhờ người ta chở đi nữa. Mình cắt môt vài lần là lấy lại vốn. Sau khi Ba tôi nghiên cứu tập giấy kèm trong bộ đồ nghề về hướng dẫn cách xử dụng, ông đem tự điển Bách Khoa Toàn Thư ra tra tới, tra lui, thái độ rất tự tin, vui vẻ, yêu đời.

Thế là một ngày đẹp trời, Ba tôi hy sinh làm người mẫu cho chị em tôi luyện tay nghề. Đầu tiên là cô gái út, nổi tiếng khéo tay và từng là thợ cắt Âu phục bên VN. Không biết sao, mới cắm điện vào, đưa một phát, đầu tóc ba tôi bên phải trắng hếu. Con nhỏ hoảng hồn la lên:

- Chết, sao nó ủi nhanh quá vậy.

Con bé lấy cái kéo sửa tới sửa lui, nó lẩm bẩm, cắt bằng kéo coi bộ chắc ăn hơn. Hì hục cả buổi con nhỏ vẫn chưa dám đưa cái gương cho Ba tôi soi. Cô em kế ngồi nhìn em mình làm thợ cắt tóc, coi bộ không xong bèn làm khôn lên tiếng:

- Để tau, tông đơ bằng điện mà, mi giởn hoài.

Cô bé cẩn thận để cái lược lên rồi mới bấm tong đơ, vèo… liếm sát da đầu, trắng hếu nửa.

- Kỳ ghê ta!

Con nhỏ sửa tới sửa lui, chê:

- Ui, cái đầu Ba mình bị méo nên khó cắt cho đẹp.

Cậu em tôi chê hai con em gái không biết xử dụng đồ nghề bằng điện, nó cũng thử tay nghề, húi một phát, phía trước, mặt tiền của Ba tôi bị xẹt một phát, bên cao bên thấp. Đến phiên tôi ra tay nữa thì trời ơi, trông Ba tôi ngố như một người thường trú ở bệnh viện tâm thần đi lạc ra ngoài. Vậy mà Ba tôi soi gương, dòm khuôn mặt khùng khùng của mình rồi cười cười:

- Kệ, xấu mặt thì lâu, xấu đầu mấy lúc, mai mốt tóc dài ra mấy hồi.

Thằng em trai nhìn thấy mái tóc quái đản của Ba tôi thì e dè. Không dám chê, không dám phê bình, ngậm ngùi leo lên ghế ngồi đưa đầu tóc cho ba đứa tôi thực hành tiếp. Hắn khôn ngoan phán cho một câu:

Cắt tự do, đi ra ngoài… tui đội mũ lên là chắc ăn nhất.

Tôi thương cái tính của Ba tôi dễ dãi, hiền hòa, ông chẳng những không phàn nàn về mái tóc không giống ai của mình mà còn lạc quan kể về những ngày mới vào trại cải tạo. Trên đó cũng đâu có ai biết cắt tóc là gì. Có một chú vì quá ốm yếu, không đi ra ngoài lao động được nên khi cán bộ hỏi ai biết cắt tóc, chú giơ tay lên. Hy vọng làm chức thợ cạo này được nhàn nhã một chút. Đồ nghề giao cho chú chỉ là một cái kéo cùn. Ba tôi kể, khi chú nhắp nhắp, cắt tới cắt lui xong cái đầu tóc thì đúng là cha mẹ còn nhận không ra nữa, đừng nói gì chính đương sự.

Vậy đó nên khi được đám thợ không chuyên nghiệp là bầy con của ông với dụng cụ cắt tóc bằng điện quá văn minh, ba tôi chấp nhận làm người mẫu cho chị em tôi dài dài suốt hơn hai mươi năm. Đến nay, em gái út tôi đã có bằng cắt tóc, con nhỏ chỉ cắt tóc cho người nhà. Ba vẫn là người mẫu trung thành, dễ dãi, dễ thương nhất trên đời.

Nhớ ngày ấy, nơi chúng tôi ở là vùng ít bóng dáng người Việt Nam. Hội Từ Thiện đã mướn nhà cho gia đình tôi căn nhà nhỏ ở tạm, chắc là vì giá nhà quá rẻ. Mỗi ngày đón xe buýt đi học Anh Ngữ về, mấy chị em từ xe buýt nhảy xuống, lội bộ thêm chừng năm phút mới đến nhà. Quãng đường không xa nhưng đây là quãng đường thích thú của chúng tôi, vì khi đi bộ, thấy người ta có nhiều món đồ cũ đem ra để trước mặt nhà, có người dán tờ giấy “FREE”, nghĩa là...đồ cho không, biếu không! Ai cần thì cứ việc mang về xài. Ngày nào chúng tôi cũng lượm lặt đuợc vài món. Khi thì cái bàn nhỏ, lúc thì cái kệ để TV, vài cái đèn ngủ … Một hôm, đi ngang qua khu vườn của một người da màu, thoang thoảng nghe hương thơm dìu dịu của rau húng. Mấy chị em lục lọi trong đám cỏ vừa mới cắt, thì ra có vô số rau húng mọc lẩn trong cỏ. Mấy đứa nhìn nhau cười, nét hân hoan hiện rỏ trên mặt như gặp người quen. Cái cảm giác mà văn thi sĩ gọi là “tha hương ngộ cố tri”.

Về nhà, tôi nói liền với Ba:

- Ba ơi, đất ở đây chắc dể trồng trọt, con thấy có rau húng mọc hoang trong cỏ.

- Ôi cha, thôi con ơi, Ba làm gì cũng được nhưng miển cái vụ trồng tỉa nghe.

Tôi tròn mắt:

- Răng rứa Ba?

- À, thì…hôì xưa tới giờ, mỗi lần bà Nội con giú chuối trong khạp cho chín, hể Ba ngó tới là kể như nó héo hon, không chín được. Bà Nội nói Ba rắn mắt, không trồng cây, không làm dưa, không…

- Xời ơi, rứa mười mấy năm cải tạo Ba không trồng được rau, lấy chi mà ăn?

- Ba làm thợ đan giỏ, đan rổ tre, sau đó tụi nó đồn ba là Kỹ Sư Đường (Ba tôi xưa kia làm ở Ty Công Chánh thành phố Đà Nẵng) nên khi Trại có cái lò nấu đường bát, cán bộ bắt Ba qua nấu đường. Từ đường sá, cầu cống Ba qua làm ông thợ, nấu mía thành đường ngon lành… Ba đổi đường lấy rau ăn, cần chi phải trồng với trọt?

Thế là sau đó Ba tôi say sưa ca đi ca lại bản nhạc “Hồi đó, trong trại cải tạo….” Ba cứ khăng khăng là không có tay trồng trọt. Tôi không tin, phần thì ăn xà lách hoài cũng ngán, chúng tôi thèm những thứ rau có mùi, mang hương vị quê nhà. Thử tưởng tượng ăn thịt gà trộn muối tiêu mà không có rau răm, ăn bánh tráng cuốn thịt ba rọi cũng chỉ với xà lách. Hành ngò thì cũng có nhưng khá đắt, kể cả những thứ rau mùi cũng có bán ở chợ Việt Nam, chợ Thái Lan nhưng rất mắc và quan trọng là không có ai chở mình đi chợ. Tôi lải nhải nhắc Ba: "Không có việc gì khó, chỉ sợ mình… không trồng!"

Một hôm, có người quen biếu Ba mấy dây khổ qua con, Ba đem ra sau vườn cắm xuống đất một cách bất đắc dỉ, ngày ngày Ba ra tưới nước, thăm chừng một cách e dè, khổ sở. Dây khổ qua be bé như hiểu được nổi khổ của Ba nên vươn vai lớn mạnh mẻ. Ba nhặt nhạnh mấy cành cây khô gác lên làm giàn. Cái giàn đơn sơ đón nhận những ngọn khổ qua với nhiều nụ vàng dể thương. Đến khi mấy trái khổ qua nhỏ xíu, e ấp lẩn trong đám lá xanh mướt thì nụ cười của Ba như trọn vẹn hơn. Sau đó, mỗi khi “được” chở đi ăn phở, Ba len lén gói vài cọng rau quế vào trong giấy, về nhà tỉ mỉ đem ngâm vào ly nước cho tươi rồi trồng vào cái chậu nhỏ, Ba bón xác trà và tưới nước đều đặn, gặp ai cũng hỏi thăm mua phân bón ở đâu… Ba vì nhu cầu “ăn uống” của mấy đứa con mà hết lòng hết sức với mấy cây rau thơm, mấy cây ớt. Dần dà, vườn rau nhỏ của Ba với dây khổ qua, vài cây ớt, rau quế, rau húng…lại là niềm đam mê và tự hào của Ba.

Ba năm sau khi định cư ở quê hương mới này tôi đi mua căn nhà mới, chính là căn nhà tôi đang ở bây giờ. Hai cha con chọn nhà có sân sau bằng phẳng. Ba ra sức cuốc thêm ra phía sau, lấn vào bìa rừng để mở mang “bờ cõi”. Đất ở Georgia là vùng đồi núi nên toàn là đất đỏ lẩn với đá. Ba miệt mài “có công mài sắt, có ngày nên kim”.

Sân sau nhà tôi sau nhiều năm trồng trọt bây giờ là vườn rau với đấy đủ những thứ cần thiết. Nào là dưa leo, mướp, bí đỏ, bí đao, rau muống, rau lang, đậu bắp, rau thơm các loại, diếp cá, ớt, tía tô, khổ qua, đậu ve, rau mồng tơi, dền…là những thứ trồng vào mùa xuân, ăn suốt mùa hè, mùa thu. Đầu mùa thu Ba còn tỉa được ngò rí và rau cải con, cải bẹ xanh để ăn bánh xèo. Những dịp này, buổi sáng ra vườn rau, hương của các loại rau thơm, ngò…tỏa lên ngan ngát, dịu dàng khiến tâm hồn khoan khoái thật dể chịu. Ba còn ra công đào một rảnh nước song song theo những luống rau, dưới đó Ba thả vài nhánh ngò ôm tức là rau ngổ, bên cạnh là đám bạc hà, hai thứ để nấu canh chua.

Ba tận dụng mảnh đất sau nhà làm thành một vườn rau rất tươi tốt, ngăn nắp. Giàn khổ qua phải cách xa giàn mướp ngọt một khoảnh sân, vì ngọt đắng là hai vị khắc nhau, rau quế là thứ kén nhất nên ưu tiên được “ngồi” trong chậu. Dây bí đỏ không lên giàn mà được thả cho bò lên đồi, như vậy chịu được mấy chục quả bí nặng nề, chắc nụi. Rau thơm và diếp cá, rau răm được sắp xếp ở gần nhau trông rất đoàn kết. Ba nói, mỗi khi cần ăn rau sống, đem rổ ra cắt một loạt là có đủ các thứ rau thơm không cần đi đâu xa. Rau muống là thứ thích nước nên Ba trồng ô rau muống ở giữa hai rảnh nước, những cọng rau muống xanh mướt thấy mà ham!

Bao nhiêu tiền con cái cho Ba vào những dịp lể, Tết Ba đều để dành mua dụng cụ làm vườn, mua phân bón.

Cách đây cả chục năm, khi khu nhà này đang còn xây dựng Ba thường lang thang vào xóm trong, nhặt những mảnh gổ, khúc cây… sau đó ra Home Depot mua thêm một ít ván, Ba chăm chỉ đẻo đục, đo đạc… cuối cùng dựng lên được một căn nhà nhỏ ở góc vườn. Căn nhà làm theo kiểu ông bà thuở xưa, có cột kèo làm bằng mộng, không phải đóng đinh, có hai mái, có cửa chính, cửa sổ. Bên trong có hai dảy kệ để Ba chứa đồ đạc làm vườn, phân bón, máy cắt cỏ, một dạng như căn nhà kho của Ba. Bên ngoài ông còn làm cái khóa rất kiên cố.

Trải qua bao mùa mưa nắng, tuyết phủ, căn nhà nơi góc vườn của Ba tôi vẩn rất chắc chắn, hiên ngang chịu đựng. Đám con cháu khen ngợi, ông thường hảnh diện: "Nhà lầu mấy tầng, cầu treo qua núi ông Ngoại còn làm được, dể như chơi, huống chi thứ nhà nhỏ này". Hình như bao nhiêu kiến thức thời Ba học ở trường Công Chánh năm xưa nay được ông đem ra áp dụng, tuy thất cơ lở vận nhưng Ba tôi không thất chí nản lòng. Điều này thật đáng để chúng tôi ghi nhớ, noi gương và nhớ đến Ba với muôn vàn hảnh diện.

Vườn rau của Ba tôi mỗi năm thêm xanh tốt, mùa hè ông say sưa với mảnh đất nhỏ mà quên ăn quên ngủ, không ngại nắng mưa. Chúng tôi ủng hộ Ba bằng cách hăng hái chở Ba đi mua phân, mua đất xốp, thêm chuyện trả tiền nước hằng tháng không cằn nhằn. Má tôi thì động viên bằng cách siêng năng đếm từng trái bí, trái mướp. Mỗi khi Ba cắt rau để đầy trong tủ lạnh, chia cho con cháu ăn không hết thì Má chịu khó bỏ vào bịch nylon, buổi sáng sau khi đi bộ về, Má rủ vài người bạn già ghé qua khoe vườn rau và chia phần. Vườn rau nhỏ mang lại niềm vui cho nhiều người.

Ba tôi thường ví von chăm sóc vườn rau như nuôi bầy con. Có đứa dể nuôi, không chăm sóc nhiều cũng lớn vùn vụt, mạnh mẻ ra đời thành công; có đứa cần phải o bế tỉ mỉ mới lớn, cũng có đứa cưng chiều quá mức thì lại ốm o hư hỏng, đem lại cho mình nổi buồn phiền. Rau quả ngoài vườn của Ba cũng vậy, có thứ thả lơ lửng vẫn tươi tốt cho ra hoa, ra quả ngon lành; có thứ được tưới nhiều nước, bón phân đều đặn lại èo uột, quắt queo. Ba tôi trồng rau với cả tấm lòng như thế. Dây bí đao mùa này yếu ớt, Ba tôi đâm lo như thấy đứa con bị bệnh, mỗi ngày tưới nước Ba đếm từng cái lá, hôm qua được mười bảy lá, hôm nay héo mất một lá rồi. Ba hỏi thăm người này người nọ lý do tại sao, Ba xem lịch VN coi có phải tại tiết trời quá độc, cây cỏ cũng hư hao, nhà nông gọi là mất mùa… Dây bí đao đã không phụ lòng Ba, dây bí nhỏ xíu mà cho ra quá nhiều trái, tròn trịa như một bầy heo con.

Ngày hè, chừng mười một giờ trưa là Ba ra nhà sau, lấy cạc tông che nắng cho đám rau, chiều về bớt nắng Ba dở ra, săm se từng ngọn rau, từng cái lá. Mùa đông, Ba theo dỏi dự báo thời tiết trên TV để thu hoạch hết ngoài vườn trước khi những đợt gió lạnh tràn về. Có lần Ba tiếc mấy cây ớt còn đầy trái, bụi sả tốt tươi chưa muốn nhổ thì tuyết rơi, tuy không nhiều lắm nhưng cũng thừa sức làm đám rau của Ba héo hon ủ dột. Đứng trong nhà nhìn qua khung cửa kính, Ba chép miệng liên tục, thương cho vườn rau bị nhiểm lạnh.

Ba tôi là thế, việc gì làm Ba cũng bỏ hết tâm trí vào, Ba nói có như thế mới đạt được kết quả, bằng ngược lại mình cũng không lấy làm buồn vì dù sao mình cũng đã hết lòng hết sức, coi như “mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên” là ý trời mà, buồn làm gì.

Ba tôi sống lạc quan, nhẹ nhàng theo quan niệm Phật Pháp. Luôn có ý thức về sự vô thường, ngắn ngủi của một kiếp người nên cách hành xử của Ba tôi cũng sâu sắc, luôn trân trọng những niềm vui hiện tại. Ba tôi chăm sóc vườn rau mà đặt cảm tình vào như đang nuôi đàn con.

Vườn rau là niềm vui tuổi già của Ba, không những đem lại lợi tức nho nhỏ hàng ngày, mà qua đó, những suy tư của Ba cũng triết lý theo từng mầm xanh đang nảy nở mỗi ngày, bao muộn phiền như tan biến. Tôi tự hào mình là người đã “khuyến khích” Ba bước vào con đường trồng trọt này. Nhìn dáng Ba cặm cụi bên những luống rau, dây bí, giàn mướp tôi ao ước cho Ba tôi mãi mãi có sức khỏe bên cạnh người bạn đời, ngoài niềm vui với gia đình, con cháu còn vui với cỏ cây. Mong cho những ngày tuổi già của Ba được thanh thản, nhẹ nhàng như quan niệm sống đầy bao dung của Ba vậy.

Nhắc đến Ba má thì tôi không thể nào quên một câu chuyện, đó là một chiều cuối tuần đầu tháng Sáu, cách đây đã mười năm…

Chuông điện thoại reo.

- Con rảnh không, chở Ba má đi shopping?

Tôi giật mình, suýt làm rơi cái điện thoại xuống đất. Thường thì Ba Má tôi nhờ chở đi Chùa, đi chợ hoặc đi Bác sĩ. Tôi chưa bao giờ nghe Ba Má tôi muốn đi shopping. Tôi hỏi lại một lần nữa cho chắc ăn:

- Dạ, đi đâu Ba?

- Đi Mall.

Rồi không đợi tôi điều tra thêm, Ba tôi nhỏ nhẹ giải thích:

- Ba muốn đưa Má con đi Mall để mua tặng Má con món quà kỷ niệm năm mươi năm ngày cưới.

Ôi, đúng là Ba tôi, môt người đàn ông Việt Nam vô cùng lãng mạn, dù tuổi đời đã hơn tám mươi.

Thuở tôi còn bé và cả khi tôi đến tuổi cần để xây dựng hình tượng một người đàn ông cho đời mình, tôi vẫn mong ước đó sẽ là một người chồng, một người cha giống hệt Ba tôi vậy. Tôi nhớ những khi Ba Má tôi có chuyện cãi nhau, Má tôi lúc nào cũng nóng nảy hay hờn giận; trong khi Ba tôi lúc nào cũng nhỏ nhẹ “Mình ơi, mình hởi” ngọt xớt. Ngày Ba Má tôi có cơ hội đoàn tụ thì tuổi đã cao, sức khỏe cũng theo thời gian mà giảm sút nhưng tình yêu của Ba dành cho Má vẫn tràn đầy, ấm áp. Tôi đã nhìn thấy ánh mắt long lanh niềm hạnh phúc của Má khi nhận món quà kỷ niệm ngày cưới từ người chồng năm mươi năm mà Má thường đánh giá là “xấu trai, con nhà nghèo nhưng... học giỏi”. Cuộc hôn nhân kéo dài tính đến nay đã hơn sáu mươi năm với tám người con, bốn trai, bốn gái, Ba Má tôi và các con dĩ nhiên cũng trải qua những cơn sóng trong gia đình, cũng trải qua bao thăng trầm của thế cuộc nhưng dù bất cứ điều gì xảy ra, tận đáy lòng tôi, Ba vẫn là một người dàn ông mẫu mực tuyệt vời.

Đến năm 2012 thì cả nhà tôi các anh em, cháu nội ngoại được Ba tôi lần lượt bảo lảnh để đoàn tụ. Tuy hơi lâu vì ngày tuyên thệ quốc tịch của Ba bị trì hoản, lý do: Ngón tay trỏ của Ba bị tai nạn lao động ở chổ làm, cắt cụt mất một lóng nên khó khăn trong việc lấy dấu tay, phải làm tới làm lui mấy lần. Thời gian chờ đợi quả là thăm thẳm, mỗi khi có tin tức bên nhà lộn xộn là Ba má lo canh cánh. Tội nghiệp nhất là những mùa đông giá buốt, nếu Ba có cảm lạnh hay sốt, ho là Ba lo uống thuốc, chăm sóc bản thân, khi thắp hương trên bàn thờ Phật thì lẩm bẩm hoài:

- Cho tui mạnh giỏi để đón mấy đứa con đứa cháu qua sum họp, đừng kêu tui đi sớm nghe ông bà.

- Ôi nghe mà xót cả ruột!

Đợt cuối cùng đón người nhà từ VN qua, trong bửa cơm đoàn viên, Ba tôi thắp nhang ở bàn thờ Phật xong và nói trong nước mắt:

- Bây giờ Ba có chết cũng yên tâm, cả nhà mình ở đây hết rồi, cháu nội cháu ngoại Ba đứa nào cũng có cơ hội học hành, làm ăn đàng hoàng. Ba hoàn thành tâm niệm rồi, cảm ơn Trời Phật!

Tôi không biết các anh, em tôi khi nghe câu nói này, cảm giác như thế nào chứ riêng tôi, thật là đứt ruột!

Năm này Ba tôi đã 88 tuổi, mắt mờ, tai nghểnh ngãng, thần thái không còn tươi. Ba mang đầy đủ các chứng bịnh của người già, ngủ li bì cả ngày. Sau một lần đi ra ngoài không nhớ đường về nhà thì Ba như rơi vào trạng thái trầm cảm, biếng ăn, lặng lẽ đến ngạc nhiên.

Mùa hè đang đến, những lúc nhìn ánh mắt mờ đục của Ba khi ngắm khu vườn sau nhà không còn xanh mướt nhiều loại cây quả nữa, tôi thật quá đau lòng. Má tôi đi ngoại giao hàng xóm, xin về mấy gốc cây con Ba cũng không màng chăm bón. Những thú vui đọc sách, xem TV...ba cũng lơ là hẳn, không còn lạc quan thuởng thức cuộc sống như trước kia.

Còn đâu giọng nói sang sảng kể chuyển tù cải tạo, còn đâu hình ảnh Ba cặm cụi bên những luống rau, săm se những búp non hay tỉ mỉ sửa sọan những quả mướp, quả khổ qua mơn mởn, lủng lẳng trên giàn. Ba giờ đây lúc nhớ, lúc quên, chẳng còn biết phân biệt thời gian. Suốt ngày Ba lục lọi, tìm kiếm; nếu hỏi: Ba kiếm gì vậy? Câu trả lời: Ờ, không biết Ba kiếm gì nửa! Khuôn mặt, ánh mắt Ba lúc ấy ngơ ngẩn như một đứa trẻ. Trông thật tội. Vậy mà con cháu mời ăn một món gì là ông cứ buộc miệng hỏi: Má ăn chưa? Má đâu rồi? Một đời Ba tôi, lúc nào cũng nghĩ đến vợ con trước hết, quên cả bản thân mình.

Tôi không là một phụ nữ may mắn về đường tình duyên nhưng tôi cảm nhận mình là một người hạnh phúc. Và lẩn lộn trong vùng trời kỷ niệm của đời mình, tôi chợt nhận ra hình ảnh của Ba tôi lúc nào cũng hiện hữu bên cạnh tôi như một cái bóng khi vui khi buồn. Cùng tôi đi du lịch, cùng ngồi xem giải vô địch bóng đá, cùng bàn bạc chuyện nhân tình thế thái, chuyện thời sự đó đây… Ba tôi là thế, đơn giản mà gần gủi; chiếc bóng của Ba đã phủ trùm lên cuộc đời tôi mãi mãi và duy nhất, không có gì thay thế được. Tôi biết rằng không có ngôn từ nào có thể diễn tả đầy đủ về lòng biết ơn của con cái đối với bậc cha mẹ, không có tặng phẩm vật chất nào xứng đáng, có đủ ý nghĩa để tặng cha mẹ trong các ngày Lễ Trọng. Tôi cầu mong cho Ba Má tôi luôn khoẻ mạnh, vui vẻ thanh thản tâm hồn trong những tháng năm còn lại của cuộc đời, như quan niệm sống của Ba vậy.

Mỗi một ngày qua đi, bình minh rồi hòang hôn...tôi dành phần sâu thẳm trong trái tim tạ ơn đất nước đầy tình người và bao dung này đã cưu mang gia đình tôi.

Cám ơn Ba, cám ơn cuộc đời đã cho tôi một món quà vô giá mà không phải thế gian này ai ai cũng may mắn có được.

Atlanta, June 2016

Nguyễn Diệu Anh Trinh
 

Sunday, June 11, 2017

NGÀN TRÙNG XA/SÓNG BIỂN



Cho một kiếp mơ được yêu nhau / Minh Đức Hoài Trinh đã ra đi vào ngày 9/6/2017

                                       Inline image 1

Tác giả hai bài thơ đã cùng âm nhạc của Phạm Duy trở thành bất hủ trong lòng người Việt, nữ thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh, đã ra đi vào ngày 9/6/2017 tại miền Nam California. Một cái tên lớn của văn hoá Việt Nam đã hoá mây về trời trong những ngày ở quê nhà đầy mưa và mây xám.
Kiếp nào có yêu nhau và Đừng bỏ em một mình, là đôi tác phẩm trong hàng loạt các sáng tác của bà như truyện ngắn, truyện dài, thi tập… mà danh mục có đến 17 ấn bản, từ năm 1960 đến 1990.
Tài liệu về bà, chủ yếu được trích từ sách “Văn nghiệp & cuộc đời Minh Đức Hoài Trinh” do phu quân của bà là Nguyễn Huy Quang chép lại (sách đề tác giả là Nguyễn Quang). Hiện sách gần như tuyệt bản. Trong đó nói rõ tiểu sử của bà như sau:
“Minh Đức Hoài Trinh tên thật là Võ Thị Hoài Trinh, bà thường lấy các bút hiệu là Hoàng Trúc, Nguyễn Vinh, Bằng Cử. Bà sinh ngày 15 tháng 10 năm 1930 tại Huế, sống ở Pháp từ năm 1953 đến 1964. Sau đó bà đến định cư tại quận Cam, Hoa Kỳ từ năm 1982. Tên tuổi của Minh Đức Hoài Trinh không ai trong giới văn học không biết. Bà sinh tại Huế, con quan Tổng Đốc Võ Chuẩn, Ông Nội bà là Võ Liêm, Thượng Thư Bộ Lễ của triều đình. Năm 1945 Bà tham gia phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp, sau đó Bà biết sự lợi dụng của phong trào nên bà bỏ về Huế tiếp tục học.
Năm 1964 bà đi du học tại Pháp về ngành báo chí và Hán văn tại trường ngôn ngữ Đông Phương La Sorbonne, Paris đến năm 1967 bà ra trường và làm phóng viên cho đài truyền hình Pháp ORTF, lúc đó bà đi làm phóng sự nhiều nơi sôi động nhất như: Algerie và chiến trường Việt Nam. . . Năm 1972 bà được cử theo dõi và tường thuật cuộc hòa đàm Paris. 1973 Bà sang Trung Đông theo dõi cuộc chiến Do Thái, một thời gian sau bà trở về Việt Nam giảng dạy khoa báo chí tại Viện Đại Học Vạn Hạnh năm 1974-1975.
Sau biến cố 1975 bà trở lại Paris cho xuất bản tạp chí “Hồn Việt Nam” và trở lại cộng tác với đài phát thanh ORTF với chương trình Việt ngữ để tranh đấu cho những nhà cầm bút, những văn nghệ sĩ Việt Nam bị cộng sản cầm tù. Bà đứng ra thành lập Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại và vận động để được công nhân hội viên Hội Văn Bút Quốc Tế tại Rio de Janeiro, Ba Tây vào năm 1979″…
Về câu chuyện văn bút quốc tế, có rất nhiều chi tiết đáng ngưỡng mộ tâm sức của bà.
Sau năm 1975, rất nhiều hội đoàn chính danh liên kết với quốc tế của miền Nam Việt Nam như Hướng đạo sinh, Ngân hàng, báo chí… đều bị đứt đoạn. Hội nhóm văn chương tự do của miền Nam sau thời điểm đó đều tan tác, mỗi người một hướng.
Theo quy định của Văn bút Quốc tế, muốn tái lập, thì tổ chức nhân danh quốc gia đó phải có ít nhất là 20 thành viên. Từ một nền văn hoá có đến hàng ngàn danh sĩ của miền Nam, việc liên lạc và tập hợp 20 người vào năm 1977 đến 1979 đã trở nên khó khăn vô cùng, nhất là khi cuộc sống của người Việt di tản còn vất vả và ly tán.
Năm 1978, nữ thi sĩ và là nhà báo Minh Đức Hoài Trinh một mình tham dự Đại Hội Văn Bút Quốc Tế kỳ 43 tổ chức ở Stockholm, Thụy Điển, và đơn độc một tiếng nói Việt Nam ở đó, bà vận động các nhà văn và các bút nhóm quốc tế quen biết ủng hộ cho việc thành lập Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại (Vietnamese Abroad Pen Centre) chính danh là thành viên của Pen International, với lý do nối kết lại hoạt động của giới trí thức tự do Việt Nam sau chiến tranh. Đây là việc mà ai cũng thấy là vô hy vọng vì sự chống đối mạnh mẽ của phe thân cộng, lúc đó đang nổi lên trong Pen International. Nhưng kết quả bỏ phiếu thì thật bất ngờ: 23 phiếu thuận – 23 phiếu chống. Rất nhiều nhà văn trong hội đồng đã cảm động trước tâm nguyện của bà nên đã bỏ phiếu đồng ý. Tiếc là kết quả không như ý.
Năm 1979, tại Đại Hội Đồng Văn Bút Quốc Tế kỳ 44 ở Rio de Janeiro, Brazil, cuộc vận động của nữ thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh thành công. Và Văn Bút Việt Nam Hải ngoại tồn tại đến ngày hôm nay, vẫn chính danh là nhánh văn bút quốc tế thuộc Pen International.
Mục đích và tâm lực của nữ thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh là muốn xây dựng một tiếng nói truyền thông có tầm quốc tế cho giới trí thức người Việt đang phải ly tán, nhất là vào lúc khi muốn cất tiếng thì lại quá lạc loài. Tầm nhìn của một phụ nữ như bà, vào thời gian ấy, quả thật đáng ngưỡng mộ.
Từ năm 1982, Minh Đức Hoài Trinh định cư ở Hoa Kỳ, sau đó ở gần nơi cư trú của nhạc sĩ Phạm Duy. Nơi Midway City, mà ông thường diễn dịch một cách thơ mộng là Thị trấn giữa đàng.
Nói về cơ duyên của sự kết hợp thi ca và âm nhạc của Kiếp nào có yêu nhau và Đừng bỏ em một mình, nhạc sĩ Phạm Duy có ghi lại trong hồi ký Vang vọng một thời: “Tôi bấy giờ đang là quân nhân… bỗng gặp lại Minh Đức Hoài Trinh lúc đó được mười bảy tuổi từ thành phố Huế thơ mộng chạy ra với kháng chiến. Nàng còn đem theo đôi gót chân đỏ như son và đôi mắt sáng như đèn pha ô tô. Từ tướng Tư lệnh Nguyễn Sơn cho tới các văn nghệ sĩ, già hay trẻ, độc thân hay đã có vợ con… ai cũng đều mê mẩn cô bé này. Phạm Ngọc Thạch từ Trung ương đi bộ xuống vùng trung du để vào Nam bộ, khi ghé qua Thanh Hóa, cũng phải tới Trường Văn hóa để xem mặt Hoài Trinh. Hồi đó, Minh Đức Hoài Trinh đã được Đặng Thái Mai coi như là con nuôi và hết lòng nâng đỡ.
Năm 1954, tôi gặp Minh Đức Hoài Trinh lần thứ ba khi tôi tới Paris ở khoảng hai năm. Nàng đã rời Việt Nam, đang sống với một người em trai trong một căn phòng nhỏ hẹp. Ba lần gặp nhau là rất hy hữu, tôi bèn giao lưu với nàng và soạn được hai bài ca bất hủ”…
Là người sống cùng thời đại với nữ văn sĩ Pháp Francoise Sagan, và cũng là người theo Tây học nhưng tư tưởng bàng bạc theo thuyết cõi tạm của Phật giáo, ngôn ngữ của bà luôn u uẩn nhưng ngôn từ của bà thì dữ dội và đắm đuối đến ngộp thở, đọc lại vẫn bàng hoàng:
“Đừng bỏ em một mình Trời đất đang làm kinh Rừng xa quằn quại gió Thu buốt vết hồ tinh”
Hay
“Kiếp nào có yêu nhau Nhớ tìm khi chưa nở Hoa xanh tận nghìn sau Tình xanh không lo sợ”
Hoặc trong bài “Tình chúng mình sẽ được vẽ lên tranh” có đoạn:
“Anh còn sống là mình còn xa cách Vì cuộc đời hay ghét kẻ yêu nhau Vì hạnh phúc phải xây trên nhiều thử thách Xã hội điên cuồng, nhân loại ngợp thương đau”
Tạm biệt bà, một danh nhân của nền văn hoá đầy sức sống mãnh liệt của miền Nam Việt Nam tự do. Thêm một người nữa đã khuất, và thêm những núi đồi hùng vĩ lại mọc lên mà hậu sinh sẽ cứ phải ngước nhìn trong trầm mặc. Những ngọn núi nhắc rằng đỉnh cao của kiếp người là để sống và mơ được yêu thương nhau, dẫu muôn thương đau.
Tuấn Khanh
Phụ lục: Các tác phẩm của Minh Đức Hoà Trinh đã xuất bản gồm có:�Lang Thang (1960), Thư Sinh (1962), Bơ Vơ (1964), Hắn (1964), Mơ (1964), Thiên Nga (1965), Hai Gốc Cây (1966), Sám Hối (1967), Tử Địa (1973), Trà Thất (1974), Bài Thơ Cho Ai (1974), Dòng Mưa Trích Lịch (Thanh Long Bruxelles, 1976), Bài Thơ Cho Quê Hương (Nguyễn Quang Paris 1976), This Side The Other Side (Occidental Press USA 1980), Bên Ni Bên Tê (truyện dài, Nguyễn Quang USA, 1985), Niệm Thư 1 (tái bản 1987), Biển Nghiệp (Nguyễn Quang USA, 1990).

Saturday, June 10, 2017

NHÀ THƠ NGUYỆT LÃNG – CON NGƯỜI VÀ BẰNG HỮU

NHÀ THƠ NGUYỆT LÃNG – CON NGƯỜI VÀ BẰNG HỮU

Thái Quốc Mưu

Tiểu sử:

Nhà thơ NGUYỆT LÃNG, tên thật Nguyễn Văn Thẩm, sinh năm 1947, quê xã Vang Quới, Bình Đại, Bến Tre. Ông viết văn làm báo và viết cổ nhạc từ năm 1969. Trước tháng Tư, 1975 có thơ, văn đăng trên các báo ở Sàigòn.

Thuở nhỏ sống trong gia đình nghèo khó, ông phải bỏ quê trôi dạt lên Sàigòn, làm đủ thứ nghề để mưu sinh và đi học. Ông là người có chí lập thân. Năm 1968 bị động viên vào Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Sau khi ra trường vài năm, với tinh thần nghệ sĩ chân chính, ông cảm nghiệm ra cuộc chiến “nồi da nấu thịt” hoàn toàn phi lý, bèn tự hủy hoại thân thể và được giải ngũ. Và vẫn ở Sàigòn, lăn lóc trên trường chữ nghĩa, sống cầm hơi bằng tiền nhuận bút.

Sau ngày 30-4-75, ông trở về quê ở xã Vang Quới, Bình Đại, Bến Tre, nhưng bị địa phương nơi sanh ra mình không chấp nhận, đuổi đi. Ông trở nên trôi nổi nhiều nơi, cuối cùng tìm được bến đỗ tại Xã Minh Hương, Bình Phước, làm nghề rẫy là chính, viết là phụ. Vẫn sống trong nghèo khổ.

Nghĩa tình bằng hữu:

Ông là bạn chí thân của 3 anh em cùng sống bằng nghề viết lách: Thái Quốc Mưu (Liêu Tiên Sinh), Thái Quốc Tế (Kha Tiệm Ly), Thái Quốc Thế Nguyên (ALý Phượng Tuyền). Bốn người họ rất thân nhau.

Năm 2012, Thái Quốc Mưu từ Mỹ gọi về thăm ông, Nguyệt Lãng cho biết ông đi khám bệnh mới phát hiện bị bệnh ung thư bao thời kỳ cuối, phải truyền hóa chất 18 lần, nhưng vì nghèo khổ ông đành ôm bệnh với những cơn đau xiết. Từ đó, Thái Quốc Mưu giúp đỡ ông triệt để, cầm cự được sáu bảy lần vô hóa chất, biết mình không thể kéo dài cuộc sống. Lần cuối cùng ông e-mail cho Thái Quốc Mưu:

“Liêu, Tôi biết mình không thể sống lâu hơn nữa, nên thư nầy đến Tiên Sinh để cám ơn tri ngộ. Tình bạn của chúng ta là một nhân duyên tốt đẹp, thật đáng tiếc tôi phải chia tay các anh ở giữa đoạn đường trần. Tôi hơi mệt... Xin vĩnh biệt từ nay”.

Thế rồi, hai hôm sau, Nguyệt Lãnh lên đường về cõi vĩnh hằng lúc 2 giờ sáng ngày 1/1/2014 (nhằm ngày 1 tháng Chạp năm Quý Tỵ) hưởng thọ 66 tuổi. Linh cữu được quàng tại nhà riêng số 57/4 xã Minh Hưng, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, lễ an táng cử hành lúc 8 giờ 30 ngày 4/1/2014.

***

THƠ NGUYỆT LÃNG

CHUYỆN CHIẾC CẦU.
(Trường ca).

Mấy mươi năm lửng thửng sống bên cầu
Tôi chưa thấy ai người đi qua đó
Nước vẫn chảy dưới chân cầu… Và, gió…
Vẫn mơn man đùa tay vịn trên cầu

Nghe nói cầu được xây dựng rất lâu
Là công sức của hai làng góp lại
Để ghi nhớ một ngày trọng đại
Khi hai làng hữu hảo kết thông gia

Nghe nói từng sắm đến mấy kiệu hoa
Thủ chục cặp xôi vò mươi mấy quảy
Rượu sẽ chảy như chân cầu nước chảy
Liểng và hoa như sắc bướm rợp trên cầu

Trai gái làng hứa hẹn thắm duyên nhau
Hẹn đến lúc cầu xây xong sẽ cưới
Ngày hợp long có bao nhiêu là pháo
Bao gánh xôi và rượu cúc, xôi vò…

Những nạ dòng cứ vừa chạy vừa vo
Xăn vén mãi cũng không thành móng lợn
Tóc dầu lạc lắc lư đùi mông sấn
Mỡ gáy cao còn bóng lưỡng môi trầu.
*
Đến một hôm hàng Tổng luận công đầu
Hai Lý trưởng tranh nhau ghè mắt liếc
Hai chiếc ô thành côn quyền quyết liệt
Đóng cầu đi! Thề đến chết cũng không nhìn…!

Lý trưởng làng chém vào mép lan can
Dẹp, dẹp hết chẳng thông gia thông giếc…
Nạ mông sấn đem tre gai đóng cọc
Ở hai đầu làm lô cốt. Cấm đi qua!
*
Hai làng kia như quà quạ với cò
Kể từ đó như trâu đen trâu trắng
Quyết không trộn lẫn ngô cùng sắn
Trai làng ta cứ cưới gái làng mình..!

Chỉ tội cho người con gái đoan trinh
Chờ đợi mãi hết năm cùng tháng tận
Gầy guộc lắm như xác ve tàn lụn
Cũng không sao quên được mối duyên đầu!
*
Mấy mươi năm thùi thủi sống bên cầu
Lưng tôi võng nhưng lưng cầu chưa võng
Và vẫn thế gió trên cầu vẫn lộng
Chỉ lá vàng chưa tiết đã xa nhau..!

Rồi một hôm cầu gục xuống chân cầu
Xa trông hệt như một người bó gối
Sông vẫn cứ một dòng trôi tức tửi
Bao giờ sông còn về được bên nguồn..!
*
Cả trăm năm sừng sững đứng bên đường
Cây đa đỏ giấu nỗi buồn không nói
Đã từ lâu do đất lề quê thói
Tạo tính câu mâu và cố chấp của làng

Cho nên cầu vốn dĩ đễ đi sang
Mà rêu mọc ngăn cách làng bao thuở
Cầu vẫn đợi như một người góa bụa
Dựa chân cầu nước mắt chảy như tuôn!


Nguyệt Lãng
Bình Phước ngày thứ tư 15 tháng 8 năm 2012.
(Bài thơ vừa viết xong trước khi vào bịnh viện)


Trên Báo Bình Phước, Nhà văn XUÂN NAM VIẾT VỀ NGUYỆT LÃNG

NGUYỆT LÃNG CÒN LẠI VỚI THỜI GIAN

Nguyệt Lãng tên khai sinh là Nguyễn Văn Thẩm. Anh sinh tại Bến Tre và lập nghiệp tại Bình Phước. Anh là hội viên Hội Văn học - Nghệ thuật Bình Phước và là người cộng tác nhiều năm ở Báo Bình Phước. Sau hai năm chống chọi với căn bệnh hiểm nghèo, ngày 1-1-2014, nhà thơ Nguyệt Lãng đã ra đi để lại nỗi tiếc thương trong lòng bè bạn và những ai biết đến thơ anh.

Nguyệt Lãng nổi danh với bài thơ “Rau đắng đất” sáng tác năm 1972 và được nhạc sĩ Bắc Sơn phổ nhạc. Sáng tác của anh đi sâu vào thân phận con người với phong cách chân thực, gần gũi, đồng cảm với vùng quê hương sông nước miền Tây Nam bộ, được bạn đọc yêu thích, mến mộ.

Tuổi thơ của Nguyệt Lãng gắn với vùng sông nước Bến Tre: “Tuổi thơ đi với bông bần/ Ước mơ tôi thả trắng ngần bến sông”. Cái nghiệp văn chương đã sớm kéo bước chân Nguyệt Lãng phiêu bồng qua các miền quê. Anh đem theo khát vọng muốn thoát ra khỏi cuộc sống tù túng. Cái khát vọng có chút phiêu lãng giang hồ.

Cái sâu lắng của Nguyệt Lãng là thấu hiểu được khát vọng trong con người sống giữa sự tù túng. Đọc bài “Quê nghèo”, tôi lại liên tưởng đến “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư. Đó là thân phận người nông dân nơi chốn bùn lầy nước đọng vẫn hằng khao khát một cuộc đổi đời.

Nói đến quê hương là nói đến mẹ. Mẹ là hình ảnh hiển hiện trong tâm trí người đi xa. Người mẹ của Nguyệt Lãng cũng như bao thân phận của người phụ nữ nông thôn trên đồng đất miền Tây. Họ phó mặc duyên phận may rủi. Thân phận họ khác nào giọt mưa. Từ giọt “mưa sa” trong ca dao đến giọt “mưa rụng” xuống “ao làng” của Nguyệt Lãng cho ta thấy nỗi buồn về số phận người phụ nữ vẫn xuyên suốt qua mấy thế kỷ.

Người mẹ của Nguyệt Lãng trên cánh đồng miền Tây hun hút mênh mang ấy vẫn ôm ấp những kỷ niệm về tình yêu. Nguyệt Lãng đã lách vào nỗi niềm nhạy cảm nhất của người mẹ. Mẹ cũng như bao phụ nữ khác, cũng có quyền được giữ riêng cho mình những kỷ niệm về tình yêu của một thời con gái. Có lẽ chỉ ở vùng đất nơi có điệu hò phương Nam mới có cái nhìn thoáng như vậy. Cái nhìn ấy lại được đưa vào văn chương, nó vượt qua rào cản và ảnh hưởng của hàng ngàn năm phong kiến.

Nguyệt Lãng còn viết về người chị mười sáu tuổi như cây cải “trổ ngồng”. Cha mẹ vội gả chồng nơi xa xứ. Còn chị thì “Như đọt mướp bỏ vòi bám giữ/ Câu ví dầu... đừng gả con xa”. Cái hình ảnh người chị còn non như cái “vòi mướp” quấn lấy cha mẹ. Và rồi cuối cùng cũng phải gỡ ra khỏi vòng tay cha mẹ để về nơi xứ người.

Hình ảnh người chị lại xuất hiện trong bài thơ “Rau đắng đất”. Bài thơ đã được âm nhạc chắp cánh và có sức lay động lan tỏa qua nhiều thập kỷ. “Nhìn quãng đồng xa một làn khói trắng/ Cũng bâng khuâng nhớ lắm quê mình/ Bỗng nghe thèm rau đắng nấu canh!”.

Đọc “Rau đắng đất” ta liên tưởng đến “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm. Hai bài thơ có sự gần gũi về giai điệu và cũng là lối thơ tự sự. Nhưng Nguyệt Lãng gắn câu chuyện của mình với những cuộc đời riêng, nỗi niềm riêng của người dân nơi vùng sông nước miền Tây Nam bộ.

Nguyệt Lãng còn nhiều bài thơ nói đến người đến cảnh ở vùng đất Bến Tre quê hương anh và rộng ra cả vùng Nam bộ. Thơ Nguyệt Lãng không kể lể, liệt kê. Anh cũng không làm cái việc ghi
chép lại nét văn hóa, phong tục ở mỗi làng quê.

Mỗi bài thơ của Nguyệt Lãng đều chứa đựng một tâm trạng, một nỗi niềm và có khi là một kiếp đời. Nguyệt Lãng đã đi sâu vào thân phận con người với nỗi niềm day dứt trăn trở không nguôi.

Đóng góp của Nguyệt Lãng trong văn chương chính là việc anh đi sâu vào thân phận con người, chia sẻ nỗi đau và khát vọng của họ. Đặc biệt là thân phận người nông dân miền Tây sống giữa đồng đất mênh mang với những trận lũ tràn bờ, những cuộc đời lênh đênh như cánh bèo trôi. Nhưng trái tim thuần phác của họ luôn ấp ủ ước mơ, những hy vọng. Thơ Nguyệt Lãng đưa tới một thông điệp đó là tình yêu quê hương và thôi thúc chúng ta giải phóng con người khỏi cảnh đời tù túng.

Nguyệt Lãng đã ra đi! Bước chân “lãng tử” đã dừng! Những sáng tác của anh cũng không nhiều nhưng sâu sắc. Đặc biệt tác phẩm “Rau đắng đất” của anh vẫn còn xanh mãi trong lòng người dân đất Việt yêu nước, thương quê.     

Xuân Nam

***

VINH THÔNG - NHÀ THƠ NGUYỆT LÃNG MỘT MÌNH QUA BẾN

Năm mới dương lịch 2014 về trong sự hân hoan chờ đón của bao người, với biết bao hy vọng mới, niềm tin mới. Vậy mà khi đó có một người thơ lặng lẽ từ giã cõi đời khi đất trời vừa bước sang một chu kỳ mới chỉ được vài giờ. Nhà thơ Nguyệt Lãng đã ra đi ở tuổi 66, bình thản về đất trong sự bất ngờ của biết bao bạn bè văn nghệ. Cuộc đời quả là vô thường, có đó rồi mất đó, mới đây mà…

Ngày đầu tiên của năm dương lịch 2014, bận một số công việc gia đình nên mãi đến tối tôi mới có thể online được, thật bất ngờ khi hay tin nhà thơ Nguyệt Lãng từ trần lúc 2 giờ sáng ngày 1/1. Không muốn tin vào mắt mình, tôi đã vội vã liên hệ một vài người bạn để xác nhận thông tin, và đến khi đó, tôi đã thật sự không kìm nổi xúc động. Tính ra thì ông và tôi cũng có nhiều kỷ niệm gắn bó cùng nhau, dẫu là chưa gặp mặt lần nào, nhưng “văn kỳ thinh bất kiến kỳ hình”, phải chăng? Đến hôm nay tôi mới có thể viết những dòng nầy cho ông, dù đã hơi trễ.

Nhà thơ Nguyệt Lãng tên thật là Nguyễn Văn Thẩm, sinh năm 1947, quê ở Bến Tre. Ông bắt đầu cầm bút sáng tác từ năm 1969, có nhiều có tác phẩm đăng rải rác trên báo báo và tạp chí ở Sài Gòn từ trước 1975. Ông là tác già bài thơ “Rau đắng đất” đã được nhạc sĩ Bắc Sơn phổ thành ca khúc “Còn thương rau đắng mọc sau hè”. Tôi và nhà thơ Nguyệt Lãng quen biết nhau qua một số trang văn nghệ online từ năm 2011. Sau đó có dịp in chung trong nhiều tập sách, dần dần chú cháu quen biết và trao đổi qua email. Tôi đọc và thích những vần thơ dung dị mà sâu sắc của ông từ dạo ấy: “chẳng còn ngăn kéo nào để giấu / ta trút vào sông hết nỗi niềm / có cả hồn ta trong chén rượu / cuối cùng tiễn biệt chuyến phà quen!” (Phà ơi xin lỗi)

Cuối năm 2011 nhà thơ Nguyệt Lãng gửi tôi bài thơ “Chút tình gửi thương Châu Phú” viết về quê hương tôi, bài thơ nầy có lẽ nhà thơ đã viết từ lâu, trong một dịp nào đó về thăm Châu Phú (An Giang). Có lẽ đây là một trong những bài thơ có nhiều kỷ niệm với tôi. Khi nhận được, tôi đã xin phép ông gửi bài thơ cho tập san Văn nghệ Châu Phú của Hội VHNT Châu Phú. Bài thơ được chọn đăng trong tập san số xuân Nhâm Thìn 2012.

“bao đời qua,
con đường mòn thành quốc lộ
bến nước đã thành nỗi nhớ
cho người phiêu bạt tha phương!

những chiếc ghe bầu nằm đợi ăn hàng
cắm sào mơ ngủ
nước lớn ghe lui, nước ròng ngồi nhậu
nướng con khô trèn rủ bạn làm quen”

Sau đó, bài thơ được chọn ngâm trong đêm thơ nhạc Nguyên Tiêu Châu Phú 2012. Tôi được Ban tổ chức phân công ngâm bài thơ nầy, lần ấy cũng là lần đầu tiên tôi đứng trên sân khấu ngâm thơ trước công chúng. Thế nên tôi đã cố gắng tập dượt rất kỹ trước đêm thơ, vậy mà khi lên trình bày vẫn chưa thật sự thành công lắm, nhưng dầu sao cũng để lại một kỷ niệm khó quên. Lúc ấy nhà thơ Nguyệt Lãng có dự định về thăm một số họ hàng ở Bến Tre và Châu Đốc, tôi có lời mời ông tiện đường ghé ngang Châu Phú để dự đêm thơ, nhưng cuối cùng ông bận một số việc ở Bến Tre nên không về kịp.

Năm 2012 tôi có thực hiện hai tuyển tập thơ là “Cổ tích cánh đồng” viết về đồng bằng và “Chim én mai vàng” viết về mùa xuân, có lời mời ông tham gia. Cả hai tập ông đều có gửi bài tham gia nhưng chỉ khiêm tốn “xin nhận vài quyển sách làm kỷ niệm, còn lại thì cháu cho bạn bè ai cũng được, chú già rồi giữ nhiều làm gì, cũng có dịp tặng ai đâu”. Giờ đọc lại những bài thơ xuân của ông đăng trong tập thơ ngày cũ mà nhớ đến người thơ vừa mới đi xa: “Chiều cuối năm Đồng Xoài hối hả / Giành nhau đưa cái tết về nhà / Chiều cuối năm có người hối hả / Một mình đem nỗi nhớ đi xa” (Đồng Xoài cuối năm).

Cũng trong năm ấy, nhà thơ Nguyệt Lãng phát hiện mình mắc bệnh nan y. Gia đình đã rất khó khăn, chật vật xoay xở để chăm lo cho bệnh tình của ông. Bạn bè, đồng nghiệp thường thăm hỏi và giúp đỡ. Sau một thời gian điều trị, đến giữa năm 2013 bệnh tình của ông có phần thuyên giảm, sức khỏe dần hồi phục. Ông có gọi điện cho tôi hỏi “miền Tây mùa nầy nước lên chưa?” và nói rằng mình nhớ miền Tây mà không về được. Ông nói trong năm 2014 Hội VHNT Bình Phước sẽ đến thăm và học hỏi mô hình Hội VHNT cấp huyện ở Châu Phú để triển khai thành lập các Hội VHNT cấp huyện cho tỉnh Bình Phước. Vậy mà chưa thực hiện được chuyến về thăm Châu Phú thì ông đã ra đi. Vậy là ông đã hai lần lỗi hẹn cùng Hội VHNT Châu Phú.

Sau đó gửi bài thơ “Cứ trách mùa lỗi hẹn” có đề tặng tôi, trong thơ có nhắc đến những địa danh quê nhà quen thuộc của tôi.

“Từ lúc người đi biền biệt xứ / Đã lâu không ghé Chóc Năng Gù / Bỏ con nước chảy qua Bình Mỹ . Cho nhạt hồng đôi má cù lao”

Có lẽ biết trước được mình không qua khỏi, nhà thơ đã gửi bản thảo tập thơ “Ruộng ai người ấy đắp bờ” cho một số bạn bè văn nghệ thân thiết và ngỏ ý hy vọng có một đơn vị nào đó có thể giúp mình xuất bản tập thơ cuối đời. Nhưng ước nguyện đó đến nay vẫn chưa hoàn thành được, tác giả của tập thơ đã nhắm mắt xuôi tay mà không kịp nhìn thấy đứa con tinh thần cuối cùng của mình.

Nhà thơ Nguyệt Lãng đã từ giã chuyến rong chơi văn chương, bỏ hết mọi ưu tư đời thường. Ra đi, phải chăng như những lời thơ mà ông đã viết: “Tẩn ngẩn nhìn mùa xuân chợt biến / Khi đang còn cách một bàn chân”, “ Chiều nay trở lại sông quê / Đò ngang một chuyến đi về một tôi”. Dẫu là chưa gặp, nhưng dường như tình nghĩa đã đầy, hay tin ông ra đi làm sao có thể kìm nổi xúc động, như vừa mất một người thân. Người thân ấy, lúc nào cũng giản đơn, dung dị, khiêm nhường mà rất sâu sắc.

Và bây giờ thì ông có lẽ đã phiêu diêu cõi bằng an nào đó. Đó là ở nơi mà: “chẳng có ai chờ chẳng có ai đi / một mình đưa mình qua bến”. Cúi đầu tiễn biệt ông, nhà thơ Nguyệt Lãng !

VĨNH THÔNG

***

Nhà thơ Phong Tâm đã viết - TIỄN NGUYỆT LÃNG

Trăng tan
Sóng dạt
Bến bờ mênh mang sóng
Hòa dòng Cửu Long
Lục bình tím thẳm
Xanh xanh chìm
Phù sa về lại biển đông
Đôi cánh mỏng một vòng sương khói lạnh
Tiếng chim trời Nguyệt Lãng bóng mây vương
Ừ ! Đi đi
Hoàng hôn đời người vẫn vậy
Chỉ có một nơi về
Chỗ không nhìn thấy
Không có cuộc chia ly!

03.01.2014
Phong Tâm

***

CHÂU THẠCH – ĐỌC, MỘT MÌNH VÁ ÁO của Nguyệt Lãng.

MỘT MÌNH VÁ ÁO.

chiếc áo một ngày không hẹn, rách.
vụng về sợi chỉ mấy đường may
cây kim sứt mũi đâm vào vải
những tiếng buồn thiu giữa ngón tay!
con chim bìm bịp gù trong lá
ai giấu niềm đau ở cuối vườn
ta giấu niềm đau nơi mảnh vá
mảnh vá quàng như một vết thương!...

Lời bình:

Có những bài thơ khi đọc xong, nếu trong ta có vết thương lòng thì bài thơ hình như hàn gắn lại cho vơi bớt nỗi đau, nhưng cũng có những bài thơ đọc xong, dầu trong ta không có vết thương nào cũng thấy lòng nhói đau như có vết, còn nếu trong ta có vết thì bài thơ khơi thêm niềm đau ấy âm ỷ trong lòng ta mãi miết. Cả hai lọai thơ ấy đều là những bài thơ hay mà tác giả của nó phải là những thi sĩ tài hoa, đã từng sâu nhiệm trường đời. Với tôi bài thơ “ Một mình vá áo” là bài thơ thuộc lọai thứ hai, nó đã hành hạ tôi chẳng khác chi cây kim sứt mũi đâm vào vết thương mà tôi lầm rằng thời gian đã làm liền da lại. Chỉ với câu thơ đầu tiên của “một mình vá áo” Nguyệt Lãng đã đưa tôi vào cảm giác bất ngờ vì liên tưởng đến biết bao điều bất hạnh đột xuất trong một đời người:

Chiếc áo một ngày không hẹn, rách.

Không hẹn, dấu phết, rách: Chữ “ rách” khác chi một tai nạn ập xuống đầu, một biến cố đến
trong giây phút mà con người không đóan trước. Tất nhiên chiếc áo không hẹn mà rách là việc bình thường, nhưng ở đây còn có ngụ ý nói về một đổ vở xảy ra trong cuộc đời luôn biến động.

Rồi thì tác giả làm gì với chiếc áo rách của mình đây?:
Vụng về sợi chỉ mấy đường may

Áo rách thì bỏ đi và may áo mới. Áo rách mà đem vá lại cho ta một hình ảnh rất buồn về sự gượng ép hàn gắn vết thương, về cuộc sống nghèo nàn của chủ nó. Đã thế áo được vá lại một cách vụng về. Điều đó nói lên chủ áo là người phong lưu chưa từng biết vá áo, nay phải gượng gạo vá lại chiếc áo của mình nên đường may mới phải vụng về. Không nữa, thì cũng nói lên người chủ áo cô đơn chẳng có một người nữ nào sống bên mình.

Hai câu thơ đầu chỉ là phát họa một bức tranh.

Hai câu thơ sau mới là hòan thiện bức tranh buồn vô hạn:

Cây kim sứt mũi đâm vào vải
Những tiếng buồn thiu giữa ngón tay

Không ai vá áo bằng cây kim sứt mũi, chỉ có nhà thơ Nguyệt Lãng của chúng ta mới vá áo một cách tài tử như vậy mà thôi, Kiểu vá áo nầy nếu không phải của anh chàng lè phè thì là của anh chàng đang sa cơ lỡ vận, và hình ảnh vá áo kiểu nầy nếu không làm cho người ta cười thì làm cho người ta khóc. Trong bài thơ nầy hình ảnh vá áo là hình ảnh làm cho người ta khóc vì:

Những tiếng buồn thiu giữa ngón tay.

Tiếng của cây kim cụt đầu đâm vào vải là tiếng kêu rất nhỏ. Những tiếng kêu rất nhỏ nhưng vào
thơ Nguyệt Lãng thành tiếng dội u buồn, Điều kỳ lạ là những tiếng buồn ấy chỉ ở giữa những ngón tay nhưng người đọc lại thấy rằng cả tác giả khi viết thơ và cả mình khi đọc thơ đều có nỗi đau âm ỉ, kéo dài của những vết thương trong lòng do cây kim cụt đầu, do đường may thô thiển của sợi chỉ gây nên.

Bốn câu thơ ở vế đầu là phần mở của bài thơ, Phần mở chỉ giới thiệu cái hình ảnh còn lẻ loi trong góc tối, phát họa niềm đau còn ẩn chứa trong lòng. Bài thơ không có vế thân bài, chỉ có phần kết luận, và ở phần kết luận tác giả mở toang--6 cánh cửa để nỗi đau trong lòng mình tràn ra trùm lên cảnh vật trong tiếng gù ấm ức của con chim bìm bịp ở cuối vườn:

Con chim bìm bịp gù trong lá
Ai giấu niềm đau ở cuối vườn

Không mấy ai từng nghe tiếng chim bìm bịp, nhưng đã nghe được thì không mấy ai cảm thấy hài lòng, Chim bìm bịp không hót, chim bìm bịp gù, và tiếng gù như nỗi đau ẩn chứa trong lòng, và nỗi đau ấy dầu ẩn chứa trong lòng nhưng âm thanh lại loan ra như sóng, trùm niềm đau lên cây lá, trăng sao, xói niềm đau vào lòng người nghe sao mà da diết quá. Tác giả tưởng rằng “ ai dấu niềm đau ở cuối vườn” nhưng niềm đau ở cuối vườn không ai dấu, đó là niềm đau ở trong lòng tác giả, nó đã thành ma nhập vào hồn tiếng gù của con chim bìm bịp. Hãy tưởng tượng tiếng buồn đi trong đường chỉ và tiếng buồn vọng lên từ con chim gù trong lá. Tiếng buồn nào lớn hơn? Tiếng buồn nào đau hơn? Và tiếng buồn nào sẽ làm ta rơi lệ? Với tôi cả hai tiếng buồn đều như nhau, vì cả hai đều một thể, là nỗi khắc khỏi của tâm hồn, là sự quặn thắt của con tim, là tâm tư sầu thảm của con người vừa nghèo túng vừa cô đơn đang ngồi vá lại chiếc áo rách với cây kim đã bị gảy đầu,với sợi chỉ chắc lượm được từ đâu đó.

Hai câu thơ cuối của bài thơ như sau:
Ta giấu niềm đau nơi mảnh vá
Mảnh vá quàng như một vết thương
Niềm đau làm sao giấu nơi mảnh vá được?

Bởi vì mảnh vá thể hiện niềm đau của tác giả: vá một đường chỉ thì niềm đau còn ít, vá hai đường chỉ thì niềm đau tăng lên, mà vá ba đường chỉ trở lên thì niềm đau vở òa đến lạnh cả không gian, làm se thắt đến cả tiếng chim gù trong lá. Dưới con mắt tác giả mảnh vá được hình dung như một vết thương, và một nghịch lý đã xảy ra giữa vết thương trên áo và vết thương trong lòng tác giả. Vết thương trên áo thì được vá liền nhưng vết thương trong lòng thì lại xé tọat thêm ra. Bởi vậy tác giả nói “ ta giấu niềm đau trong mảnh vá” không phải là muốn nói niềm đau được vá lại mà là để ám chỉ đến vết thường trong lòng giống như mảnh vá hằn lên trên vải, nó sẽ tồn tại và nó chỉ rụi tàn khi nào thân xác như chiếc áo trở thành tro bụi.

Bài thơ “ Vá áo một mình” là một bài thơ cô đọng và hàm xúc. Đó là một bài thơ ẩn dụ, dùng cây kim, mảnh vá để nói đến niềm đau, sự ấm ức, nỗi khắc khỏi và tiếng kêu thương sâu kín trong tâm hồn ấy đã làm cọng hưởng cả tiếng chim trời, cả cây lá ở cuối vườn kia. Đọc “ Một mình vá áo” để ta cảm thấy cô đơn, để ta cảm thấy âm thầm đau đớn, và để ta cảm thấy cả cõi lòng chùng xuống chịu đựng nỗi buồn ẩn chưa trong sợi chỉ, giữa ngón tay và thóat xác thành tiếng gù của con chim bìm bịp, để ta và tác giả hòa nhập cùng nhau mang nỗi buồn dài năm tháng ./.

Châu Thạch

***

AI MUA THƠ NGUYỆT LÃNG KHÔNG?

Thái Quốc Mưu

Theo như tôi được biết, trên đời này phàm ai cầm bút làm thơ hay viết văn đều mong có ngày những bài viết của mình được in thành sách. Nhưng có một người không giống thế, chẳng biết do không muốn in hay là chẳng có tiền in?

Bất ngờ, anh gởi đến tôi tập bản thảo mỏng (chừng vài mươi bài thơ); rao bán đứt bản quyền, chuyện lại càng hy hữu nếu hiện tôi không sống trên đất Mỹ, mà đang ở trong nước thì chắc tôi cũng đồng cảm mà bắt chước người xưa than câu văn chương hạ giới rẻ như bèo; rằngnhà văn An-Nam khổ như chó!

Nhưng mình cũng không thể thấy lê quên lựu mà không cảm thông với đồng nghiệp, anh em mình. Phải nói cho tường tận sở dĩ nhà văn mình khổ, văn chương mình rẻ không phải vì mình có kiểu làm khác người mà vì chính mình thường không trân trọng mình. (Ai cũng cho mình hay nên không them đọc của người khác), thành thử ngay trong nước người viết hầu như đông gấp nhiều lần người đọc, chỉ trừ những hiện tượng văn học (mà chắc gì không do lăng-xê, thổi phồng?!)

Đến đây chắc mọi người xót ruột hỏi sao tôi không nói ra tên nhà thơ “dở hơi” đó, thật ra anh này cũng không xa lạ với chúng ta. Anh ta là Nguyệt Lãng, tác giả bài thơ “Rau Đắng Đất” mà nhạc sĩ Bắc Sơn  phổ thành bài ca “Còn Thương Rau Đắng Mọc Sau Hè” và nhiều bài nữa mà các nhạc sĩ trong nước mượn đó chắp cánh cho ca khúc của mình.

Lần này anh rao bán bản quyền là những bài thơ chưa bị “xâm hại” dù có nhiều bài được viết khá lâu. Đa số anh viết về vùng quê sông nước với niềm hối hận xem mình là một “hột phù sa lạc loài”. Thật vậy, vì anh gốc vốn đồng bằng mà phải lên núi mưu sinh! Có lẽ cũng chính vì thế mà nỗi nhớ quê hương sông nước với những con đò, những phiên chợ nổi, những buổi chướng lên, lũ về hay những cơn khát ngọt làm cho anh ray rứt không nguôi…

Hãy nghe anh viết:

Tuổi thơ đi vớt bông bần,
Ước mơ tôi thả trắng ngần bến sông.
Ngày hai con nước lớn ròng
Lúc trơ bờ bãi lúc mông mênh tràn
… Hôm nay trở lại thăm quê
Đò ngang một chuyến đi về một tôi
Bâng khuâng ngồi vớt bông trôi
Vớt nhằm chiếc bóng mồ côi của mình
(Dòng sông tuổi thơ)

Hay:
Nửa đời đi lại bao phiên chợ
Chợ nổi qua rồi sóng chẳng qua
Khoác nước mà quai chèo vẫn tuột
Buồn tôi bẹo mãi có ai mua?
(Chợ nổi)

Đó là mối tình nông nổi giục anh đi chớ ở phương xa mỗi lần nhớ quê anh hãy còn ra rứt lắm:

Nơi con chuồn chuồn cắn tuổi thơ tôi
Để sông nhớ lục bình thổn thức
Mấy mươi năm vẫn còn rưng rức
Cuống rún đau giấc mộng giang hồ.

Nơi cơn nồm giành giật tháng ba
Những thân phận bọt bèo nằm khóc
Tô canh tập tàng thương con mắm sặt
Đuối hơi rồi ai vớt nổi ai đây???
(Quê nghèo)

Hoặc những khi nhớ Mẹ:
Nhà mình cách chợ làng xa
Mẹ tôi gánh cải vượt ba quãng đồng
Phải qua cả một con sông
Nhỏ nhoi giữ chốn mênh mông… là đò!
(Con đò tuổi thơ)

Rồi khi Mẹ mất:
Nếu như đếm được bao gàu sánh
Bìm bịp đừng kêu nước lớn ròng
Mấy chục năm qua đời Mẹ gánh
Không chừng đã cạn mấy lần sông!
(Vườn rau của Mẹ)

Những khi nhắc đến người đồng bằng anh vẫn một giọng thân thiết:
Người quê chơn chất hồn đưng lác
Mộc mạc như xôi bắp bánh tằm.
(Nhớ Tân Mỹ)

Thơ Nguyệt Lãng ít vui, nhiều buồn có lẽ do cuộc đời của anh vốn chịu nhiều bất hạnh, xa quê từ khi còn trai trẻ nên hình ảnh quê hương con đó, dòng sông, ruộng nước, cánh cò tiếng dế luôn thấm đẫm trong thơ anh. Hình ảnh quê hương và những người thân yêu như Ngoại, Mẹ, Chị luôn ẩn hiện trong tâm khảm. Nên, anh luôn trung thành với thể thơ truyền thống nhưng không gò bó theo kiểu bốn câu ba vần nên đọc nghe một âm điệu không nhàm chán. Duy đột nhiên có bài mang đậm mùi triết lý nhưng cũng không xa rời thực tế:

… Sư nói ác lai là ác giả,
Bước qua sông trong lúc cùng đường
Màu lau trắng nhuộm dòng dịch thủy
Đâu có cần con chốt mang gươm?!
(Xem sư cả chơi cờ)

Có nghĩa là anh không muốn một phút ngưng nghỉ nhớ về quê hương bản sở nhưng do sinh kế quấn bách nghề viết không đủ nuôi thân nên đôi khi anh cũng bật lên:

… Thơ bây giờ không mua nổi mớ rau,
Gạo mấy cân tháng không tháng có
Hùng khí tàn theo cám rã… Thơ bay!
(Thơ thời bão giá)

Khi còn sức khỏe, Nguyệt Lãng sống bằng nghề viết lách ăn nhuận bút, chỉ vài ba trăm ngàn (vài chục đô-la) một bài thơ. Bèo vậy, nên cuộc sống anh vô cùng khó khăn nay anh gởi mấy chục bài thơ này nhờ tôi rao bán. Hỏi bao nhiêu thì vừa? Khó nói phải không? Giá như ở đây (Mỹ) có người chịu bỏ tiền ra mua đứt tác quyền về sau thơ lên ngôi hoặc tác giả nó nổi tiếng (mà hiện tại anh cũng có tiếng rồi!) liệu xuất bản có lỗ không?

Trên quan điểm tình người, tính nhân bản, nhân văn thì tôi cho rằng chắc chắn không lỗ vì sẽ không có chuyện lỗ lời ở đây nếu bạn biết rằng đồng tiền bạn bỏ ra đang là cái phao cứu sinh cho một thi hữu đang lâm trọng bịnh.

USA ngày 27 tháng 6 năm 2012
Thái Quốc Mưu

***

THÁI QUỐC MƯU - KHÓC NGUYỆT LÃNG

                  Bài I

Chúng mình gặp gỡ khoảng mươi năm
Tình nghĩa keo sơn tựa sắt cầm
Cửa Phật đem theo câu nguyện ước
Cõi đời để lại cái chân tâm
Ý thơ gắn bó lòng nhân ái
Chữ nghĩa chia lìa kẻ độc thâm
Sống chẳng tham danh tranh đoạt lợi
Nghìn thu yên giấc một nơi nằm

                Bài II

Chữ nghĩa thì anh trả nợ rồi
Thôi thì cõi Phật viễn du chơi
Sống lành chắc hẳn ơn lành đến
Tích thiện đương nhiên cõi thiện mời
Nhớ bút hãy đùa cùng tiên nữ
Thèm thơ xin nhắn cái thằng tôi
Anh đừng quay lại nơi trần thế
Một cõi quanh ta lắm ngợm người
                         Atlanta, USA. Jane 3, 2014
                         Thái Quốc Mưu