Thursday, October 22, 2015

"Ai về Chiêm quốc hộ Huyền Trân?”

Trần thị Vĩnh Tường 
Hãy cùng nhau hé mở cánh cửa bí mật vào một nền văn hoá rực rỡ, tưởng là bị lãng quên, đó là văn hoá Champa, mà ngưòi Việt quen gọi là Chiêm thành hay Chàm, Hời hay Lồi. Ngưòi Chàm tự gọi là Chăm hay Champa, tên một loài hoa.
Hoa champaca màu trắng, vừa giống hoa ngọc lan vùa giống hoa sứ. Trong một chuyến đi cruise đầu năm 2008, tôi mang theo tập san Champaka, bìa có in một bông hoa sứ. Một nhân viên người Bali mượn đọc và cho hay hoa champaca cũng là hoa của đảo Bali, thuộc Indonesia. Anh cũng hiểu một số chữ Chàm in trong sách. Từ đó thủy thủ đoàn nguời Indonesian và tôi chào nhau theo kiểu Bali và Chàm, cũng giống người Việt xá nhau khi vào chùa, hai tay chắp truớc ngực, đầu hơi cúi. Bông hoa và tay chắp, như dấu hiệu văn hoá xuyên quốc gia, bỗng dưng mang lại niềm vui dịu dàng suốt cuộc hải hành dù giữa một biển ngưòi xa lạ.
Hương thơm của nền văn minh rực rỡ của vương quốc Champa, xứ sở của trầm hương, đã được nhiều nhà sử học và khảo cổ học nghiên cứu. Tuy nhiên, sức tàn phá cuả thiên nhiên và con người thô bạo hơn, đến nỗi một thi sĩ người Việt là Phan Ngọc Hoan, yêu Champa đến lấy bút hiệu Chế Lan Viên, đã ai oán kêu lên
Chắc có lẽ linh hồn ta lay động
Khi vội vàng trở lại nước non Chiêm
Chiến tranh liên tục giữa hai nước láng giềng Chàm-Việt xảy ra hàng ngàn năm đã tàn phá cả hai dân tộc. Chỉ nhắc loáng thoáng đôi điều nơi Đại Việt Sử Ký Toàn Thư:
Đời Lê, năm 982, “…vua Lê Đại Hành chém Vua Chiêm là Phế Mị Thuế tại trận, bắt sống quân giặc không biết bao nhiêu mà kể, bắt được kỹ nữ trong cung trăm ngừoi và một thầy tăng người Thiên Trúc, lấy các đồ quí mang về, thu được vàng bạc của báu kể hàng vạn, san phẳng thành trì, phá huỷ tôn miếu, vừa một năm thì trở về Kinh sư.”
Đời Lý, năm 1044, vua Lý Thái Tôn mang quân đi đánh Chiêm Thành, “…Quách Gia chém đầu vua Chiêm là Sạ Đẩu. Bắt sống hơn 5,000 nguời, còn thì bị quan quân giết chết, máu đầy gươm giáo, xác chất đầy đồng. Vua lấy làm thương xót mới hạ lệnh rằng “Kẻ nào giết bậy ngưòi Chiêm thành thì sẽ giết không tha…”
Năm 1069, “Vua Lý Thánh Tông bắt vua nước ấy là Chế Củ và dân chúng 5 vạn nguời….
Về phía Đại Việt, ngoài những lần quân Chàm quấy đảo nơi biên giới, kinh thành Thăng Long cũng ba lần bị thớt voi Chàm dẫm nát vào những năm 1370, 1377 và 1382 do việc vua Chế Bồng Nga đòi lại hai châu Ô- Lý.
Sử sách cũng nhắc đến những khoảng thời gian hòa bình, khi liên minh Chăm-Việt dựa lưng vào nhau chống quân Nguyên. Mối giao hảo đẹp đẽ tới nỗi Thuợng Hoàng Trần Nhân Tôn, lúc đó là thiền sư, sang viếng thăm nước Chăm suốt 9 tháng. Chuyến đi này cũng khởi đầu cho cuộc nhân duyên giữa vua Chế Mân 43 tuổi và công chúa Huyền Trân 19 tuổi.
Nhắc lại lịch sử làm gì? Không ngoài mục đích nhắc nhở nhau, rằng không có qúa khứ, sẽ không có hiện tại. Không thể thay đổi lịch sử, thì hãy cùng nhau ghi nhận, học tập những chinh chiến can qua, để thấy bài học lịch sử gồm cả khiếm khuyết của các lãnh đạo, và sự bất toàn nơi chính-sự các quốc gia.
Những giọt lệ nặng chĩu dài trên má của ông Từ Công Thu – anh cả của nhạc sĩ Từ Công Phụng – ngưòi sáng lập Văn Phòng Quốc Tế Champa, khiến bài phát biểu của ông bị ngưng lại nhiều lần, cho thấy nỗi khắc khoải khôn nguôi về một vết thương còn tươi máu. Giấc mơ phục hồi vưong quốc Champa hoàn toàn bị vua Minh Mạng dập tắt năm 1832 khi lãnh thổ cuối cùng của Champa bị đổi tên thành Bình Thuận. Lãnh thổ mất, nhưng Champa không mất, bởi vì trong Chàm có Việt, trong Việt có Chàm. Chăm-Việt đã bất khả phân ly từ hàng ngàn năm truớc.
Thế kỷ 10 và 11, dân số Đại Việt ở đồng bằng sông Hồng từ 2 triệu đến 2.600.000, thì con số tù binh 50,000 chiếm tỷ lệ khá lớn. Đám tù binh này bị an trí ở nhiều nơi mà dấu tích còn ghi đến ngày nay:
Phía Tây Thăng Long, 2 làng Yên Sở, Đắc Sở thuộc tỉnh Hưng Yên, có đền Lý Phục Man, chung quanh có trồng rất nhiều dừa, một sản phẩm hiếm hoi của đất Bắc. Có thể tù binh của bộ tộc Dừa của nước Chăm đã trồng những hàng dừa trên để nhớ đến cố huơng. Tạ Chí Đại Trường dẫn Trần Quốc Vuợng, cho biết ngay tại Yên Sở tới bây giờ, vẫn thấy “dấu vết một nơi an tháp tù binh Chàm, vẫn nói tiếng với ngữ điệu khó nghe nhận”.
Trong số 50.000 tù binh có 100 mỹ nữ, vũ nữ hoàng gia Chiêm. Hưng Yên nổi tiếng với hát chèo, hát ả đào, có thể xuất phát từ các cung nữ Chàm. Nhóm tù binh nữ đã có kỹ thuật dệt vải riêng, nên có cả đền bà Chúa Dệt Lĩnh. Các ca nữ này cũng đã trao truyền lại những khúc hát Nam Ai Nam Binh vọng về quê hương hết sức bi thương.
Vương tử Trần Nhật Duật hay cưỡi voi đến thôn Da-da-li –Việt gọi trệch là thôn Bà Già- nơi tù binh Chiêm sinh sống, chơi mấy ngày mới về.
Chùa Bà Đanh
Chùa Bà Đanh, hữu ngạn sông Đáy, thuộc thôn Đanh Xá, hay Đinh Xá, thuộc huyện Kim Bảng, cũng là một làng có nguồn gốc của tù binh Chăm.
Chùa Dạm
Chùa Dạm, Bắc Ninh, nổi tiếng với cột đá cao chừng 5m, một khối hình trụ (đường kính 1m30) chồng lên một khối hộp (1m4 x 1m6) – hai bộ phận sinh dục nam nữ – là biểu hiệu cho sự trường tồn, một biệt sắc rất Chăm.
Tháp Bảo Thiên, nóc được lợp bằng đồng, cao 12 tầng, cũng là công trình của thợ Chàm. Khi quân nhà Minh xâm chiếm Đại Việt, đã gỡ lớp đồng để đúc khí giới. Chỉ mới cách đây vài tháng, tháp Bảo Thiên là đề tài tranh dành giũa hai giáo hội Ki-Tô giáo và Phật giáo trong nước. Rất ngộ, không thấy hai giáo hội – và đồng nghiệp – nhắc nhở về dấu tích lịch sử hay hỏi ý kiến sở hữu chủ thật sự của địa điểm này, là dân tộc Việt Nam.
Ảnh của Vũ Kim Lộc – Cổ Vật Huyền Bí – NXB Văn Hoá Dân Tộc – Hà Nội 2006.
Cây trầm hương bằng vàng, thế kỷ 4-5. Một loại Cây Đời của Champa, tìm thấy ở Nhà Bè. Một tuyệt phẩm vô song, cả về ý tưởng lẫn kỹ thuật làm nữ trang. Cây cao 95mm, chiều dài của tán 130mm, chiều rộng 87mm, nặng 363,27 gram. Lớp vàng dát dầy 0,3mm. Cây đuợc tạo theo dáng bộ phận sinh vật nữ, hướng lên trời để giao thoa với thần thánh. Tổng cộng 8 trái và 26 bông hoa, nói lên ước nguyện sinh sôi nảy nở.
Vào đến miền Trung, sự pha trộn văn hóa Chăm-Việt còn rõ ràng hơn: t�=B� tục thờ cúng Cá Ông, đến việc thờ nữ thần Thiên Y A Na – bà mẹ vương quốc Champa – ngự ở đền Ngọc Trản, tức điện Hòn Chén, mà triều đình nhà Nguyễn sắc phong làm Thượng Đẳng Thần. Người Bắc di cư 1954, mang theo bà chúa Liễu Hạnh tá túc thờ chung ở đền này.
Theo Phan Khoan, cống phẩm của Champa cho Đại Việt năm 1659 gồm 2 con voi đực, 20 con bò sắc vàng, 6 cặp ngà voi, 10 sừng tê giác, 50 cân sáp vàng, 50 khăn luạ trắng, 200 bó vi cá, 200 cây gỗ mun, 1 cây cột buồm, 500 nón lá.
“Nón lá che ngang mặt chữ điền”! Cả hai, nón lá và khuôn mặt chữ điền đều là tặng phẩm Chăm. Người Việt nói “đội nón”, người Chàm nói “đuô non”. Miền Bắc, phụ nữ chít khăn mỏ quạ, ngày hội mới đội nón quai thao. Ở miền Trung, nón lá phổ thông hơn. Chốn kinh đô Huế, nón lá hoá thân thành chiếc nón bài thơ. Tà áo dài Việt in hệt tà áo cổ truyền của Chăm, chỉ khác có sẻ tà. Phụ nữ đồng bằng sông Hồng đa số có mặt tròn, hơi tèn tẹt, mắt hai mí lót hơi húp. Nguợc lại, phụ nữ miền Trung có trán cao hơi dô, mũi cao, mắt to sâu hình trái hạnh, gò má cao, quai hàm vuông, đôi nguời có tóc quăn, vì vậy có ca dao “Tóc quăn chải lược đồi mồi. Chải đứng chải ngồi tóc vE1��n còn quăn”. Khác biệt giữa phụ nữ Bắc và Trung không biết có phải do máu Chàm pha trộn? Cố Tổng thống Nguyễn văn Thiệu có nhận xét “Ở miền Trung, không ai là không có máu Chàm” không phải vô lý. Cộng cư và hoà huyết luôn đi đôi, truớc khi có những “nhà nước” kẻ vạch biên giới hoặc những sử gia phải uốn bút viết sử theo nhu cầu của triều đại.
Mai Hắc Đế (722) nổi dậy chống nhà Đường, quê ở Hà Tĩnh có cha là người Chăm, mẹ Việt.
Năm 1499, vua Lê Hiến Tông xuống chiếu …“Từ nay trên từ thân vương, dưới đến trăm họ, nhất luật không ai được lấy đàn bà con gái nước Chiêm thành làm vợ cả hay vợ lẽ để cho phong tục được thuần hậu”. “Từ nay nhân dân đạo Quảng Nam không được thuận tiện cướp bóc dân Man (ám chỉ dân Chiêm), mua bán nô tì riêng. Ai trái lệnh sẽ bị tội.” – cho thấy việc hôn nhân với nguời Chàm rất phổ biến từ quan đến dân. Chiếu vua bỏ quên giới phụ nữ Việt, có lẽ họ đuợc lập gia đình với chồng Chăm? Đó là tình hình Thăng Long.
Kể từ 1588, Nguyễn Hoàng làm trấn thủ vùng Thuận Hoá và bắt đầu cuộc Nam tiến từ 1611. Những ngưòi đi theo Nguyễn Hoàng có họ hàng thuộc huyện Tống Sơn (Thanh Hoá) cùng quân lính vùng Thanh Nghệ. Di dân thuở ban đầu không thể mang theo gia đình, những cuộc hoà huyết vói dân bản địa Chàm chắc chắn đã ra khỏi luật vua.
Vì vậy, tôi linh đình phản đối câu ca dao mà tác giả vô danh phát biểu dưới nhãn quan… thái thú Tô định.
“Tiếc thay cây quế giữa rừng
Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo”
Ngưòi Chăm theo mẫu hệ, con gái phải dâng lễ vật đi cưới con trai. Đằng này, ông vua đa tình Chế Mân đã theo yêu cầu của thượng hoàng Trần Nhân Tôn thuận dâng hai châu Ô, Lý (Quảng Trị, Thừa Thiên) để cưới công chúa Huyền Trân. Năm 1306, tháng sáu, công chúa Huyền Trân sang Chiêm. Năm 1307, tháng năm, vua Chế Mân băng. Tháng sáu, vua đựợc hoả táng. Tháng mười, Trần Khắc Chun g tuân lệnh vua Trần Anh Tôn sang Chiêm, lập mưu đón công chúa Huyền Trân và thế tử Đa Da về Việt; vào lúc đe doạ về một cuộc hoả táng đã không còn.
Theo sách sử và phong tục Chàm, lên giàn hoả là một điều tự nguyện chỉ chánh cung mới đuợc khẩn nài nếu muốn, và phải đuợc hội đồng hoàng gia duyệt xét. Hoàng hậu Tapasi – gốc người Java – đã đuợc đưa về nước sau ngày vua Chế Mân từ trần. Công chúa Huyền Trân không phải chánh cung, nên không được lên giàn hỏa chết theo đấng quân vương.
Triều Trần cướp công chúa về là bội hôn. Cướp ngưòi nhưng không trả đất là bội ước. Điều ai oán, sau khi về tới Thăng Long, với sự cay độc của một triều đình ảnh hưởng Nho giáo, Huyền Trân đã vào chùa tu, khi mới ngoài 20 tuổi. Thế tử Đa Da mồ côi bé bỏng, không hề đuợc sử sách nhắc tới, dù chỉ một lần.
Cũng may, văn hiến nước Việt cũng vẫn còn, nên câu ca dao này không chính thức ghi trong sử Việt. Cũng không may, câu ca dao này vẫn được các văn sĩ thời nay trích dẫn tỉnh bơ – hệt như họ là hậu duệ của thái thú Tô Định hay quan toàn quyền Decoux – Các quan thái thú/toàn quyền tân thời này coi thuờng lịch sử, khinh rẻ tấm chân tình của vua Chế Mân, cũng coi rẻ cả bước chân ngàn dậm ra đi của công chúa Huyền Trân. Thử h� �i, không có miền Trung, làm gì có miền Nam? Một dải đồng bằng sông Hồng – mà vua Trần tả “bé bằng cái bàn tay, mà làm sao đặt ra lắm ban lắm bệ thế”- làm sao chống trả nổi đe doạ triền miên từ phương Bắc? Suốt một ngàn năm, người Việt Giao Chỉ không tiến xa hơn đèo Ngang để đặt chân tới đất Nhật Nam. Chỉ 600 năm sau công chúa Huyền Trân, biên giới cực Nam của nước Việt đã như ngày nay.
Tổ tiên thế nào, chúng ta nhận chịu như thế ấy. Nhưng không vì thế ngồi hưởng sự buồn đau của dân tộc Champa. Hãy vọng v� � cố đô Mỹ Sơn, vọng về cố đô Thăng Long, tưởng nhớ đến mối u tình của vua Chế Mân và Công Chuá Huyền Trân, tưởng niệm triệu triệu sinh linh Việt-Chăm lót máu suốt giải giang sơn, và hiểu câu thơ của Nguyễn Bính khác với lối mòn lãng mạn,
Huyền Trân Huyên Trân Huyền Trân ơi
Mùa xuân mùa xuân mùa xuân rồi
Ngoài kia chín vạn bông tròi nở
Riêng có tình ta khép lại thôi
Không việc gì phải khép lại! Ngay cả thảm kịch cũng thiêng liêng và ích lợi nếu nhận biết nỗi đau lịch sử không của riêng ai. Trong nuớc, vừa mở hội thảo “Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn: Một hội thảo lịch sử”. Chắc cũng đã đến lúc ngưòi Việt đủ tự tin và bình tâm mở nhiều hội thảo chính thức về sự đa nguồn gốc của Việt tộc, trong đó có Champa, một trong những cội nguồn của Việt tộc, cả DNA lẫn văn hoá. Chỉ sự lương thiện ấy mới có thể tạo được những rung cảm giống nhau về đất nứơc và con ngưòi, yếu tố cần thiết cho sự thống nhất và đoàn kết từ trong sâu thẳm.
Những học giả người Chàm, ngừơi Tây Phương nghiên cứu Champa đã đành, cũng không thiếu gì học giả người Việt để ngòi bút tự do vượt khỏi lũy tre xanh chật hẹp khi viết về nguồn cội Champa. Bình Nguyên Lộc là tác giả nhắc đến “Lạc Lồi” như một trong những pha trộn chủng tộc trên đất Việt. Trong nước có Ngô Văn Doanh, ở Pháp có Lê Thành Khôi, ở Úc có Nguyên Nguyên, Nguyễn Đức Hiệp. Ở Cali có Tạ Chí Đại Trưòng, Nguyễn Hy Vọng, Thu Tứ. Ở Texas có NguyE1��n Cúc… Mới hôm qua, đài VNCR giới thiệu về ngày sinh nhật của IOC trên làn sóng, cộng thêm sự có mặt của giới truyền thông và đông đảo ngưòi Việt trong buổi lễ kỷ niệm hôm nay, cho thấy dù kết quả ban đầu có khiêm nhường, cũng xin các anh em Chăm ghi nhận những ân cần ấy, để trái tim đỡ bị rạn nứt; và lòng tin vào cuộc đời và giòng sinh mệnh Champa sẽ không bao giờ phai nhạt.
Salam, xin chào.
Trần Thị Vĩnh Tường, 27-12-2008, California (Bài phát biểu nhân sinh nhật hai mươi năm Văn Phòng Quốc Tế Champa)
—————————-
“Champa”để chỉ quốc gia; “Chăm” để chỉ ngưòi. Trứơc nay, người Việt hay gọi Chàm hay Chiêm, cũng giống như ngưòi Chăm, gọi ngưòi Việt là Yuôn, đều không có ý xúc phạm nhau. Hiện nay trong nuớc sử dụng từ “Chăm” để tỏ ý tôn trọng dân tộc Chăm. Tuy nhiên, trong bài này, chúng tôi vẫn dùng, lúc thì Chàm, lúc Chăm, lúc Chiêm đE1�� không đứt đoạn với quá khứ. Thi sĩ Chế Lan Viên đã dùng chữ Hời, nhưng đã có ngưòi Việt nào yêu ngưòi Hời hơn ông?

Free online photoshop web

http://www.onlinephotoshopfree.net/

Tuesday, October 20, 2015

Lục Bát Mùa Thu (của nhiều tác giả)

THU GỌI DƯ ÂM.

Lỡ tay pha đậm cà phê,
Hớp vào mới biết thu về sáng nay,
Ngoài kia lá đã đổi thay,
Trời thu lành lạnh nhẹ lay hồn nầy.

Bốn mươi năm lẻ ở đây,
Mỗi mùa thu đến quắt quay nhớ nhà,
Tưởng mình một chuyến đi xa,
Rồi quay trở lại quê Cha một ngày.

Ngờ đâu như cánh chim bay,
Phương trời trôi dạt tháng ngày đơn côi.
Cà phê chưa đủ ấm môi,
Nên lòng còn lạnh bồi hồi suy tư.

Sáng nay thu đến rồi ư?
Tôi ngồi lặng lẽ nghe dư âm về

Th Anh.
Thu 2015

Thu viễn xứ


Sáng ra trời lạnh thấy phê

Nhìn lên mới biết thu về hôm nay
Tiết trời cũng đã đổi thay
Nhẹ nhàng êm dịu ngất ngây lòng nầy

Bao nhiêu năm đã ở đây

Mà lòng cứ ước sẽ quay về nhà
Nửa vòng trái đất không xa
Mà con chưa được về qua một ngày

Mong ngày gió thổi mây bay

Giúp cho đất Việt hết ngày đơn côi
Khi ấy rượu sẽ chạm môi
Ngồi ôn chuyện cũ của hồi tháng Tư

Bốn chục năm lẻ rồi ư

Thêm mùa thu nữa tâm tư nhớ về

QThai

Thu 2015


Thu Hòa Bình

Thu về lòng thấy phủ phê
Nỗi buồn gặm nhấm, ê chề lâu nay!
Ngoài trời lá đổi màu thay
Vi vu cơn gió heo may chốn này.

Nhiều đêm trằn trọc nơi đây
Thả hồn theo gió mây bay về Nhà
Quê hương ngàn dặm khuất xa
Tình yêu non nước thiết tha từng ngày.

Nhìn bồ câu trắng rợp bay
Quyện vào ánh nắng ngập đầy hạt côi*
Nụ cười chớm nở trên môi
Nàng hòa bình đến, lâu rồi tương tư.

Mộng thành hiện thực thế ư?
Bao năm xa cách luyến lưu ta về.
Sông Hồ

* Côi: một thứ ngọc đẹp

LƯU LUYẾN

Trổ tài pha tách cà phê
Xin mời uống thử đừng về hôm nay
Ngọt thơm tình bạn quí thay
Lại thêm chút đắng ngây say tuyệt nầy

Nhớ nhau hãy đến nơi đây
Buồn vui tâm sự vơi ngay chuyện nhà
Chúng ta đều đến từ xa
Cùng chia an ủi cho qua tháng ngày

Nỗi buồn như lá vàng bay
Chất chồng thêm mãi càng đầy hoang côi
Dù đời giả dối trên môi
Nhưng tình tri kỷ ấm bồi tâm tư

Thu về, đông lạnh đó ư?
Bạn ơi Xuân đã dường như sắp về.

NLP Thu 10/23/2015

THU VỀ NHỚ MẸ 

 Thu về sân ngập lá vàng,
Ba mươi thu lẻ bỏ làng quê xưa. 
 Quê nghèo nước lợ đồng chua, 
Mẹ nằm nơi đó con chưa quay về. 
 Con đi vạn dặm sơn khê, 
Tuổi xanh lặng lẽ bay về nẻo xa. 
 Dù đời còn lắm phong ba, 
Vẫn ôm tình nước non nhà Việt Nam. 
 Đổi đời hơn bốn mươi năm,
Con sống như cảnh dân Chàm lưu vong. 
 Bỏ quê con vượt biển Đông, 
Bao thu con sống long đong xứ người 
 Còn mơ tiếng Mẹ ầu ơi, 
Nhớ Mẹ con nuốt lệ rơi trong hồn... 

NHL NJ 
Thu 2015 



Chiều thu quạnh quẽ như buồn
Bướm hoa lặng lẽ cánh chuồn bơ vơ
Mây lang thang bước hững hờ
Dọc ngang tiếng nhạn bến bờ nỉ non

Thu mơ mờ cuối ngõ mòn
Hắt hiu kỷ niệm chập chờn bóng sương
Cô liêu phiên khúc đoạn trường
Hư không đâu chỗ có đường cũ xưa!

Đường xưa đã quá rồi xưa!
Còn đây chỉ giọt thu mưa ngậm ngùi
Lao xao cây trúc sụt sùi
Nghe như tê tái lạnh mùi đắng cay!

Người đi bóng lẻ trần ai
Hỏi năm cát bụi tính ngày phong ba
Đêm buồn nghe dế rít ca
Đỗ quyên than thở điệu ma dặm ngàn

Hơi thu gió nụ nồng nàn
Mà sao nỡ để lá vàng rụng rơi!
Âm hương nẻo khuất dịu vời
Vó câu nhịp lặng cuối trời thu xa

Nam Thảo



BƯỚC SẦU THU ĐI

Tháng mười mà tiết đông sang
Tôi ngồi đếm lá thu vàng mình riêng
Lá rơi lên ngọn cỏ phiền
Để tôi khắc khoải hồn nghiêng giữa trời 

Thu buồn mây cũng buồn hơi
Lững lơ bước lạc dặm đời tha phương
Quê thương hương nhớ khôn lường
Đêm rưng mắt lệ chuyện thường canh thâu

Bóng xưa sương khói giang đầu
Xa xa ngõ rẻ bước sầu thu đi
Bâng khuâng giọt nắng còn gì?
Còn cơn gió lạnh thầm thì nỗi đau!

Nẽo về cây lá gầy hao
Cây rung lá rụng lao xao cũng nhiều
Tôi đi quạnh quẻ đường chiều
Nghĩa trang gần đó tiêu điều lặng yên


Nam Thảo
Bước Sầu Thu Đi... Tiếp Nối.

Tôi nhìn chiếc lá vàng chao,

Hoang man chợt đến lúc nào không hay,

Mấy thu phiêu bạt đó đây,

Bụi thời gian bám dạn dày phong sương.


Đời hoang qua những chặng đường,

Dừng chân quán trọ đêm sương trăng mờ,

Thi nhân cầm bút đề thơ,

Còn tôi mài kiếm đợi chờ hồi hương.


Nhìn xa khói sóng đại dương,

Ở bên kia ấy người thương vẫn chờ?

Đời tôi nuôi một giấc mơ,

Mong ngày tương ngộ đợi giờ đổi thay.


Bưóc Sầu thu ghé qua đây,
Thu Đi bỏ lại tháng ngày tôi mang.

Th Anh.
Thu 2015

Bước Sầu Thu Đi 3
Thu về lá úa vàng ui,
Ngoài kia nắng héo làm tui nhớ nhà.
Nhiều năm làm lữ khách xa,
Bận rộn nhiều thứ làm ta quên đời.

Hôm nay thu đến trên trời,
Nhớ non, nhớ nước, nhớ người năm xưa.
Năm tháng dù đã thoi đưa,
Lòng người viễn xứ, vẫn chưa hết buồn.

Bốn mươi năm lẻ lệ tuôn,
Nuốt vào trong bụng như nguồn suối kia.
Ước mơ một sớm trở dìa*,
Quê hương tươi sáng lũ kia tàn đời.

Mong Trời Phật chốn cao vời,
Cứu giúp giải thoát cho người Việt nam.
QThai
*dìa=về, người miền Tây quê thường hay dùng, và cả người Ninh Hoà nữa.
Thu 2015

CHIỀU THU
 
Chao nghiêng gió lượn chiều thu
Tương tư khúc, gót phiêu du xứ người
Vàng bay chiếc lá nhẹ rơi
Bởi chưng nạn nước cuộc đời trót vay
 
Bên trời chiếc lá thu phai
Chiếc rơi về cội chiếc ngoài ải xa
Trải bao sương sớm chiều tà
Cớ chi lệ ướt nhạt nhòa phấn son ?
 
Thu về lòng héo dạ hon
Tin người biền biệt sắt son mãi chờ
Người ơi có thấu tình thơ
Câu thương câu nhớ ước mơ lòng còn
 
Đêm qua vằng vặc trời trong
Dáng xưa sương khói sao lòng ngẩn ngơ ?
Sương thu lạnh, gió hững hờ
Thu ơi có thấu đợi chờ nhớ nhung
 
Dù cho nhân thế lạnh lùng
Lưng trời tiếng vạc đêm trường canh thâu
Dù cho nước chảy qua cầu
Tơi bời giọt nhớ hồn đau canh dài ...
 
Tuấn Đình
Thu 2015
 

Cà phê mấy ngụm sớm ban mai
Không đắng cà phê đắng tháng ngày
Lá đổ thuyền trôi thu viển xứ
Mơ về bến cũ chẵng hề phai! 

Nam Thảo.

Cảm tạ tình EM

Mỗi sáng thức dậy thấy nắng mai,
Biết ta còn sống hưởng thêm ngày,
Cám ơn buồng phổi còn hơi thở,
Cảm tạ tình EM chửa nhạt phai.
Th Anh

Thức dậy thấy lòng như sớm mai
Hớp cà phê đắng của đầu ngày
Như làn hơi thở em mang đến
Tựa tấm lòng ai chẳng nhạt phai

QThai


Giật mình thức giấc buổi ban mai
Hồi tưởng thời gian qua mỗi ngày
Nghĩa vợ tình chồng thêm khắng khít
Như hình với bóng chẳng hề phai.
Sông Hồ

Saturday, October 17, 2015

Thơ Tặng Quốc Thái từ VTH Văn Nghệ Tự Do & Văn Bút ĐNHK

Hãy vào vui thơ với các NT, VTH , ACE trong diễn đàn nghe QT, tặng bạn bài thơ sau : 

BUÔNG 

Một tách trà thô thả hết phiền.
Nữa bầu rượu lạt ngỡ là tiên.
Lên non giấu bể không tì vết .
Xuống núi cuộn sông chẳng mảy riêng. 
Vũ trụ càn khôn buông vạn pháp.
Tùy duyên bất biến xả tham thiền.
Qua cầu bến nước thuyền trao lại.
Tự tại thanh nhàn tự tánh viên.


( Tòng Nguyễn )


HỌA:

CUỐC 

Bon chen khẩu nghiệp lắm ưu phiền, 
Cuốc đất làm vườn giống Bát tiên.
Chẳng phải buồn lòng lời đại chúng,
Không còn áy náy nỗi niềm riêng.
Ngày qua tự tại ngồi an tịnh, 
Tối đến ung dung tập tọa thiền. 
Bận rộn cày quanh năm suốt tháng, 
Cuối đời tận hưởng thú điền viên.
Nông gia hai lúa NJ 
Thu 2015

Tịnh

Chơi một mình ên hỏng bị phiền
Mà còn có cảm giác là Tiên
Sáng chiều thanh thản thân an tại
Tối sớm ung dung lòng ấm yên
Quên chuyện thị phi ta học tịnh
Tránh lời dè bỉu tôi ngồi thiền
Thấy đời thanh thản nơi trần thế
U tối qua rồi, tâm lạc viên
QThai
-----------------------------------------------------------------------------------

Thơ tặng Quốc Thái
Image result for hoa dại

Chia buồn cùng QT đôi câu
Ở lại! tình văn hữu với nhau
Nên nhớ chuyện thị phi chẳng bận
Hãy cho vào quá khứ chôn sâu.

Quốc Thái ơi đừng
Quốc Thái ơi đừng có xót xa
Bận tâm chi chuyện sau lưng ga
Hãy nhìn phía trước tàu đang chạy
Biển rộng trời cao sắc dịu hòa.

Bỏ lại rong rêu
Nước chảy đá mòn ngọn suối xa
Chảy suốt ngày đêm chảy hết ga
Xuống thác qua ghềnh bền chí lớn
Bỏ lại rong rêu bùn đất hòa.

Cọng cỏ xót xa
Hãy nhìn kia cọng cỏ xót xa
Chân người dẫm đạp dưới sân ga
Cỏ rạp nhưng qua đêm đứng dậy
Dâng đời đóa hoa dại hiền hòa.

Vinh Hồ

LỜI KẺ CƯỠI BÒ 

Họa vui thơ VH Vinh Hồ 

Thư thả cưỡi bò nhạc vang xa, 
Chúng cười mặc kệ ta đạp ga. 
Miệng lưỡi nhân gian thường độc ác, 
Ung dung tự tại tâm an hòa . HA HA HA 
Hai lúa NJ 

Dựa theo câu chuyện ngụ ngôn : 
Có một ông lão công chức tiểu bang NJ sau khi 
về hưu mỗi khi ra đường không chịu lái LEXUS 350 
mà thường cỡi con... bò cái đi chợ.
Lúc tới chợ VN mấy "ông ... bà tám VN" chỉ trỏ vào 
ông lão rồi phá lên cười hô hố coi cực kì DZÔ DZIÊNG.
Sau đó bàn dân thiên hạ đã thấy ông lão vưỡn cưỡi con
bò cái đi chợ. Tuy nhiên ông đã dùng một miếng cạc 
tông gắn vào một cộng giây để che phần hạ bộ của
con bò cái. 
Cũng vẫn mấy "ông...bà tám" từng cười nhạo ông lão đã 
chặn ông lại và chất vấn :
- Ông dùng miếng cạc tông làm cái trò ma gì dzậy?
Ông lão đã cười khẩy giả nhời : 
-ĐỂ CHE CÁI MIỆNG THẾ GIAN LẠI ! 
CÓ VẬY THÔI !

------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Tâm Thư
Quốc Thái buồn chi chuyện nhỏ thôi
Thị phi phiền toái ở đầu môi
Diễn Đàn tao nhã vần thơ luyện
Văn Hóa thanh cao đạo đức dồi
Sân hận gom đầy tình mất mác
Yêu thương tha thứ nghĩa vun bồi
Chúng ta trước lạ giờ thân hữu
Xin chớ rời nhau bạn trẻ ôi!
NLP 10/15/15

Tình Huynh Đệ 2
Họa thơ VH NLPhong

Giận ai, giận chút xíu mà thôi
Đừng để nóng bừng đến tím môi
Bác ái, từ bi nên thấu hiểu
Vị tha, đạo đức phải trau dồi
Tình văn hữu dốc lòng xây dựng
Nghĩa đệ huynh chung sức đắp bồi
Cõi tạm cuộc đời ta ngắn ngủi
Thương yêu, đoàn kết hỡi người ôi!
Sông Hồ

QUÊN
Họa thơ thi sĩ Ngọc Linh Phong

Đúng rồi ba chuyện nhỏ quên thôi
Quên chuyện tầm phào, chuyện khóe môi.
Quên chuyện thi phi ngăn học hỏi
Quên lời đâm thọc cản trau dồi.
Quên bà tám xóm trên hay nổ
Quên cậu hai làng dưới thích bồi.  
Quên lưỡi không xương thường lắt léo
Giữ TÂM, cầu nguyện Chúa Trời ôi! 
Vinh Hồ
20/10/15  

Nông gia hai lúa họa vui thơ Mục Sư thi sĩ Ngọc Linh Phong .
 Để thương tặng Quốc Thái .  
ĐỘC ẨM 
Mình ên độc ẩm đỡ lôi thôi, 
Nhắp chén đầy vơi đắng chát môi.
Vợ hỏi: mình cần thêm món nhắm?
Chồng thưa: bậu xắt thêm lòng dồi.
An khang ngày ấy cùng vun xới, 
Thịnh vượng mai sau cố đắp bồi. 
Uống rượu tiêu sầu tăng tuổi thọ, 
Lại còn tránh được chuyện.... Giời ôi !!!  
Nông gia hai lúa
Thu 2015

Sự đời vốn lắm thứ lôi thôi
Đừng mãi bận tâm chuyện miệng môi
Xóm dưới rìng rang ông thấy chửa
Làng trên bép xép bác nghe “dồi”*
Thêu điều thất thiệt tình thâm mất
Nói chuyện nhân tâm nghĩa nặng bồi
Tiếng bấc, tiếng chì mình bỏ hết
Họa, thơ, đàn, nhạc các huynh ui!
Ta
*Cái nầy kêu bằng bí vần.  Ta Bắc Kỳ 100% phát âm “rồi” là “dồi”.

Hờn giận chi đâu chuyện chút thôi
Chỉ là những phát biểu đầu môi
Đam mê Đường Luật đêm vun bón
Yêu thích Văn Chương ngày đắp dồi
Tham hận sân si huynh đệ mất
Từ bi hỷ xả anh em bồi
Diễn đàn vui vẻ đâu đành bỏ
Chỉ tạm vắng nhà Huynh Tỷ ôi
QThai